Home Học tiếng Trung online Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1

Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1

by Nguyễn Phương Thảo
5 views
Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1

Bài giảng Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính

Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1 là bài giảng Thầy Vũ hướng dẫn các bạn học viên cách luyện tập kỹ năng gõ tiếng Trung trên máy tính Windows 10 bằng công cụ bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin phiên bản mới nhất. Ngoài việc tập viết chữ Hán hàng ngày ra, chúng ta cần phải tăng cường luyện tập gõ tiếng Trung Quốc mỗi ngày theo hệ thống video bài giảng đào tạo các khóa học tiếng Trung online uy tín và miễn phí của Th.S Nguyễn Minh Vũ được phát sóng trực tiếp từ kênh youtube học tiếng Trung online và fanpage thi thử HSK online và fanpage Trung tâm tiếng Trung Quận 10 ChineMaster TP HCM. Bài tập luyện gõ tiếng Trung online của Thầy Vũ rất đơn giản, các bạn chỉ cần theo dõi video Thầy Vũ dạy học tiếng Trung trực tuyến trên lớp rồi lắng nghe và tập gõ tiếng Trung cùng Thầy Vũ trên diễn đàn học tiếng Trung online ChineMaster. Đây là một trong những website giảng dạy tiếng Trung giao tiếp online của Th.S Nguyễn Minh Vũ.

Những bạn nào có hứng thú với khóa học tiếng Trung thương mại của Thầy Vũ thì hãy nhanh tay truy cập vào link sau để tham khảo nhé.

Khóa học tiếng Trung thương mại Thầy Vũ

Trung tâm tiếng Trung ChineMaster xin thông báo hiện nay đã có cơ sở thứ 2 tại quận 10 TP HCM,các bạn hãy truy cập vào những link sau để xem chi tiết các khóa học ở Hà Nội và TP HCM nhé.

Lớp học tiếng Trung giao tiếp ChineMaster Hà Nội Quận Thanh Xuân

Lớp học tiếng Trung giao tiếp ChineMaster TP HCM Quận 10

Để phục vụ cho việc học tiếng Trung được đạt kết quả tốt nhất,các bạn hãy nhanh tay tải ngay bộ gõ tiếng Trung Sogou Pinyin về theo sự hướng dẫn chi tiết của Thạc sĩ Nguyễn Minh Vũ,các bạn xem chi tiết tại link sau nhé.

Hướng dẫn download bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin cùng Thầy Vũ

Các bạn không có điều kiện học trực tiếp do khoảng cách quá xa có thể đăng ký học online tiếng Trung Thầy Vũ qua Skype tại link sau nhé.

Lớp học tiếng Trung giao tiếp online cùng Thầy Vũ

Còn tiếp theo đây là khóa học dành cho những bạn có nhu cầu tìm hiểu cũng như buôn bán hàng Trung Quốc online,Thầy Vũ đã dành riêng cho các bạn một khóa học nhập hàng Trung Quốc tận gốc Taobao đầy đủ miễn phí rất hấp dẫn

Khóa học nhập hàng Trung Quốc tận gốc taobao tmall 1688

Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1 Thầy Vũ

Hôm nay bài tập của chúng ta là luyện gõ tiếng Trung sogou pinyin theo bài đọc hiểu tiếng Trung HSK online bên dưới nhé. Các bạn chú ý làm thật nghiêm túc và có chỗ nào chưa hiểu bài thì các bạn hãy đăng câu hỏi lên diễn đàn học tiếng Trung để được các thầy cô giáo TiengTrungHSK hỗ trợ các bạn giải đáp thắc mắc online trong thời gian sớm nhất. Nội dung chi tiết bài giảng lớp học tiếng Trung sogou pinyin ngày 2 tháng 3 năm 2021 Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1

越南的摩托车禁令不明智,必将失败

越南禁止摩托车将放弃常识,对经济较弱的地区造成的打击很小。

我什至不知道从哪里开始。

我骑着摩托车走遍了越南。那是2012年,这次旅行花了我一个月的时间。与公共汽车,火车或飞机不同,骑摩托车使我得以探索更多的鲜为人知的地方,结识更多各行各业的人,发现很多东西,如果没有可信赖的两轮马车,我将无法实现。

更不用说它是多么便宜了:一个月的旅行只花了我500美元。因此,有了摩托车,您不仅可以自由去任何地方,而且可以随心所欲地去钱包。

不用说,每次我想摆脱quotidian rat race并离开某个遥远的地方时,摩托车就成为我的首选。我敢肯定,其他许多人也有相同的看法。

对于像我这样的外国人来说,摩托车就像越南的越南美食一样,像一碗香浓的越南河粉或美味的banh mi面包。它们实际上是越南文化的一部分。结识越南的任何新游客,您会看到兴奋,悬念,甚至是谨慎的恐惧感都融合在一起,并以孩子般的目光反映出来,他们看着这个国家的街道上流动的汽车。只是问我姐姐。她来越南拜访我时,她必须做的一件事是“在越南街头骑摩托车”。

但是河内已经想暂时禁止使用这辆车了。就在上个月,交通运输部还宣布了对首都计划的支持。

他们说,摩托车是造成许多城市问题的根源,其中包括空气污染,交通拥堵,噪音太大和事故过多。

真的吗?

首先,交通堵塞。一个简单的观察就会发现,摩托车并不是道路上唯一的车辆。那汽车呢?他们占用了更多的空间,但更多的是,每个人只有一个或多个驾驶员和另一个人。更不用说他们多频繁地侵入摩托车车道,扰乱车辆通行并使交通停滞。作为参考,在奔波期间,您可以去看看西贡的一些街道,例如Nam Ky Khoi Nghia或Nguyen Van Troi。

第二,空气污染。再说一次,单挑摩托车是没有意义的。它们不是唯一的排放物。汽车,工业工厂,露天焚烧垃圾-所有这些都会造成有害排放。中国已经在其一些主要城市禁止了摩托车,但多年来一直是世界上空气污染最严重的国家之一。

第三,交通事故。我们都知道,不是我们使用的车辆,而是我们在道路上的行为如何能够确保我们的安全。遵守法律,表现出责任心和纪律是可以帮助您在一整天的工作后回到家中的事情,而不必抵制摩托车。

一名妇女于2019年4月16日上午在河内Nguyen Trai街上开车送她的儿子去上学。在越南禁止骑摩托车会导致这个不太富裕的社区失去工作和其他机会。

尽管当局仍在辩论禁止摩托车是否会奏效,但不幸的是,其后果令人痛苦,显而易见。

根据哈佛大学2015年的一项研究,人们如何从一个地方移到另一个地方可以决定他们在社会阶梯上的移动,尤其是在财富方面。

在发达国家,住在地铁站附近的人比住得较远的人更有机会找到更好的工作和更高的薪水。穷人可能居住在基础设施欠佳,就业机会很少的贫民窟和社区,但是如果他们能够自由旅行,例如通过良好的公共交通系统,他们可以去任何他们想工作的地方。

现在来看越南。在房地产价格飞涨的情况下,很难在大多数就业机会最多的中心城市地区找到地方。除此之外,禁止摩托车吗?对于许多工人来说,这不亚于棺材上的钉子,数以百万计的工人依赖于他们的工作。

老实说,越南的公共交通离满足实际需求还很近。只要没有替代摩托车的可行选择,禁止摩托车将使许多摩托车承受巨大压力,降低其生产率,导致大量失业,拖累经济增长,最后导致社会崩溃。有点麻烦,但是您明白了。

另一个明显的问题是,越南的大多数人至少在短期内无力购买汽车。

在一个去年人均收入只有2,587美元,汽车进口和燃油税定期上涨的国家,禁止没有足够基础设施来缓解其影响的摩托车将只会扩大越南已经贫富差距。

这很难预见吗?还是那么容易忽略?

发达国家不是穷人可以买车的地方,而是富人实际使用公共交通工具的地方。一个好的政府要为全体人民解决问题,而不是赋予某些群体特权。

如果越南要与摩托车道别,它首先必须将其公共交通系统提高到更高的水平。

但是,那些使用公共交通工具的人已经受够了。斑马线仅供展示。人行道几乎不存在,到处都是停车位,广告牌等等。公共汽车站是开着的,通勤者必须在烈日下等待,那里被尘土笼罩,耳朵听来震耳欲聋。难怪人们会喜欢摩托车。

除了改善公共交通的天文数字,越南还需要整理公共空间,更好地执行交通规则,对人们进行适当的交通礼仪教育。越南要解决其众多的城市问题,他们的工作清单很长。禁止摩托车永远都不应列入清单。

但是也许,也许是美好的一天,所有公交车都准时运行,地铁站挤满了人,当人们每次停止互相鸣叫时,距离红灯都变了还有10秒,也许是越南公民最终将准备脱下头盔,将它们藏起来,然后将其机动化的马匹放回野外,也许会流下几滴眼泪。

但是直到那一天,那些想禁止摩托车的人都应该加息。

可疑的发展计划使大叻的未来at可危

这张照片拍摄于2019年3月,位于大叻市中心的混凝土建筑。

大叻(Da Lat)是完美的方式,所做的任何更改都应尊重其现状,否则它将永远消失。
半个多世纪以前,一位贫穷的大学新生从越南中部的顺化镇(Hue)来到了近800公里(500英里)的中部高地的大叻。

他搬到大叻(Da Lat)加入那里的建筑学院。他在新地方遇到的第一个人是一个在中学读书的女孩,她正在帮助她的家人卖米。

“你能告诉我去这所出租房屋的路吗?”他问她,显示地址。

她放完后,这个年轻人又问了一个问题:“一公斤米多少钱?”

“两个洞,”她露出两根手指说道。

他在大学里表现出色,并为该镇富裕家庭的孩子提供辅导,其中包括卖米的女孩。他成了她家的常客,多年以后,他们结婚了。

这是我父母的故事。

后来,每当他们吵架时,无论是谁的错,我的父亲或母亲都会伸出两只手指,而另一只手指则以和平的姿态停止争论。

我的父亲Ngo Viet Thu曾经说过,他对建筑师的事业是成功的,因为他总是告诉自己要尽最大的努力去实现对他的爱。

在大叻大学完成学业后,他继续就读于法国巴黎PLS研究大学的国立美术学院(国立美术学院)。

我母亲最引以为傲的成就之一是在1955年,当时她是第一个收到有关我父亲赢得了罗马大奖赛的消息的人,这是法国一项针对艺术学生的法国奖学金,允许他们在罗马住三到五年。五年牺牲了国家。

享有盛誉的奖项已扩展到1720年的建筑,1803年的音乐和1804年的版画。后来,文化部长安德烈·马尔罗(AndréMalraux)于1968年废除了该奖项。

这个消息传遍了大叻,并传遍了全国。许多人,包括官员在内,来到我在大叻的祖父母家中祝贺他们和我的母亲。

从法国回来时,父亲做的第一件事就是帮助发展大叻。

他曾经告诉我,为像大叻这样的地方制定总体规划是一项艰巨的任务,因为该镇的核心价值不是建筑物而是自然。

后来我的父母从大叻(Da Lat)搬到了胡志明市(Ho Chi Minh City),小时候,我几次被带到大叻(Da Lat)。但是直到我上中学时,我才真正爱上了小镇。

那一刻是我在大叻醒来的一个清晨。我打开窗户,看到的到处都是薄雾。我感到自己迷失在某个仙境中。雾在我眼中成为了一位了不起的艺术家。我看到的每栋被雾覆盖的建筑物都以某种方式变成了一座城堡。

大叻对我来说是一块美丽而浪漫的土地。

Phiên âm tiếng Trung cho bài giảng lớp học tiếng Trung HSK online Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1

Yuènán de mótuō chē jìnlìng bù míngzhì, bì jiāng shībài

yuènán jìnzhǐ mótuō chē jiāng fàngqì chángshì, duì jīngjì jiào ruò dì dìqū zàochéng de dǎjí hěn xiǎo.

Wǒ shén zhì bù zhīdào cóng nǎlǐ kāishǐ.

Wǒ qízhe mótuō chē zǒu biànle yuènán. Nà shì 2012 nián, zhè cì lǚxíng huāle wǒ yīgè yuè de shíjiān. Yǔ gōnggòng qìchē, huǒchē huò fēijī bùtóng, qí mótuō chē shǐ wǒ déyǐ tànsuǒ gèng duō de xiǎn wéi rénzhī dì dìfāng, jiéshì gèng duō gè háng gè yè de rén, fāxiàn hěnduō dōngxī, rúguǒ méiyǒu kě xìnlài de liǎng lún mǎchē, wǒ jiāng wúfǎ shíxiàn.

Gèng bùyòng shuō tā shì duōme piányíle: Yīgè yuè de lǚxíng zhǐ huāle wǒ 500 měiyuán. Yīncǐ, yǒule mótuō chē, nín bùjǐn kěyǐ zìyóu qù rènhé dìfāng, érqiě kěyǐ suíxīnsuǒyù de qù qiánbāo.

Bùyòng shuō, měi cì wǒ xiǎng bǎituō quotidian rat race bìng líkāi mǒu gè yáoyuǎn dì dìfāng shí, mótuō chē jiù chéngwéi wǒ de shǒuxuǎn. Wǒ gǎn kěndìng, qítā xǔduō rén yěyǒu xiāngtóng de kànfǎ.

Duìyú xiàng wǒ zhèyàng de wàiguó rén lái shuō, mótuō chē jiù xiàng yuènán de yuènán měishí yīyàng, xiàng yī wǎn xiāng nóng de yuènán hé fěn huò měiwèi de banh mi miànbāo. Tāmen shíjì shang shì yuènán wénhuà de yībùfèn. Jiéshì yuènán de rènhé xīn yóukè, nín huì kàn dào xīngfèn, xuánniàn, shènzhì shì jǐnshèn de kǒngjù gǎn dōu rónghé zài yīqǐ, bìng yǐ háizi bān de mùguāng fǎnyìng chūlái, tāmen kànzhe zhège guójiā de jiēdào shàng liúdòng de qìchē. Zhǐshì wèn wǒ jiějiě. Tā lái yuènán bàifǎng wǒ shí, tā bìxū zuò de yī jiàn shì shì “zài yuènán jiētóu qí mótuō chē”.

Dànshì hénèi yǐjīng xiǎng zhànshíjìnzhǐ shǐyòng zhè liàng chēle. Jiù zài shàng gè yuè, jiāotōng yùnshū bù hái xuānbùle duì shǒudū jìhuà de zhīchí.

Tāmen shuō, mótuō chē shì zàochéng xǔduō chéngshì wèntí de gēnyuán, qízhōng bāokuò kōngqì wūrǎn, jiāotōng yǒng dǔ, zàoyīn tài dàhé shìgùguò duō.

Zhēn de ma?

Shǒuxiān, jiāotōng dǔsè. Yīgè jiǎndān de guānchá jiù huì fāxiàn, mótuō chē bìng bùshì dàolù shàng wéiyī de chēliàng. Nà qìchē ne? Tāmen zhànyòngle gèng duō de kōngjiān, dàn gèng duō de shì, měigèrén zhǐyǒu yīgè huò duō gè jiàshǐ yuán hé lìng yīgè rén. Gèng bùyòng shuō tāmen duō pínfán de qīnrù mótuō chē chēdào, rǎoluàn chēliàng tōng háng bìng shǐ jiāotōng tíngzhì. Zuòwéi cānkǎo, zài bēnbō qíjiān, nín kěyǐ qù kàn kàn xīgòng de yīxiē jiēdào, lìrú Nam Ky Khoi Nghia huò Nguyen Van Troi.

Dì èr, kōngqì wūrǎn. Zàishuō yīcì, dān tiāo mótuō chē shì méiyǒu yìyì de. Tāmen bùshì wéiyī de páifàng wù. Qìchē, gōngyè gōngchǎng, lùtiān fénshāo lèsè-suǒyǒu zhèxiē dūhuì zàochéng yǒuhài páifàng. Zhōngguó yǐjīng zài qí yīxiē zhǔyào chéngshì jìnzhǐle mótuō chē, dàn duōnián lái yīzhí shì shìjiè shàng kōngqì wūrǎn zuì yánzhòng de guójiā zhī yī.

Dì sān, jiāotōng shìgù. Wǒmen dōu zhīdào, bùshì wǒmen shǐyòng de chēliàng, ér shì wǒmen zài dàolù shàng de xíngwéi rúhé nénggòu quèbǎo wǒmen de ānquán. Zūnshǒu fǎlǜ, biǎoxiàn chū zérèn xīn hé jìlǜ shì kěyǐ bāngzhù nín zài yī zhěng tiān de gōngzuò hòu huí dào jiāzhōng de shìqíng, ér bùbì dǐzhì mótuō chē.

Yī míng fùnǚ yú 2019 nián 4 yuè 16 rì shàngwǔ zài hénèi Nguyen Trai jiē shàng kāichē sòng tā de érzi qù shàngxué. Zài yuènán jìnzhǐ qí mótuō chē huì dǎozhì zhège bù tài fùyù de shèqū shīqù gōngzuò hé qítā jīhuì.

Jǐnguǎn dāngjú réng zài biànlùn jìnzhǐ mótuō chē shìfǒu huì zòuxiào, dàn bùxìng de shì, qí hòuguǒ lìng rén tòngkǔ, xiǎn’éryìjiàn.

Gēnjù hāfó dàxué 2015 nián de yī xiàng yánjiū, rénmen rúhé cóng yīgè dìfāng yí dào lìng yīgè dìfāng kěyǐ juédìng tāmen zài shèhuì jiētī shàng de yídòng, yóuqí shì zài cáifù fāngmiàn.

Zài fādá guójiā, zhù zài dìtiě zhàn fùjìn de rén bǐ zhù dé jiào yuǎn de rén gèng yǒu jīhuì zhǎodào gèng hǎo de gōngzuò hé gèng gāo de xīnshuǐ. Qióngrén kěnéng jūzhù zài jīchǔ shèshī qiàn jiā, jiùyè jīhuì hěn shǎo de pínmínkū hé shèqū, dànshì rúguǒ tāmen nénggòu zìyóu lǚxíng, lìrú tōngguò liánghǎo de gōnggòng jiāotōng xìtǒng, tāmen kěyǐ qù rènhé tāmen xiǎng gōngzuò dì dìfāng.

Xiànzài lái kàn yuènán. Zài fángdìchǎn jiàgé fēizhàng de qíngkuàng xià, hěn nán zài dà duōshù jiùyè jīhuì zuìduō de zhōngxīn chéngshì dìqū zhǎodào dìfāng. Chú cǐ zhī wài, jìnzhǐ mótuō chē ma? Duìyú xǔduō gōngrén lái shuō, zhè bù yǎ yú guāncai shàng de dīngzi, shù yǐ bǎi wàn jì de gōngrén yīlài yú tāmen de gōngzuò.

Lǎoshí shuō, yuènán de gōnggòng jiāotōng lí mǎnzú shí jì xūqiú hái hěn jìn. Zhǐyào méiyǒu tìdài mótuō chē de kěxíng xuǎnzé, jìnzhǐ mótuō chē jiāng shǐ xǔduō mótuō chē chéngshòu jùdà yālì, jiàngdī qí shēngchǎnlǜ, dǎozhì dàliàng shīyè, tuōlèi jīngjì zēngzhǎng, zuìhòu dǎozhì shèhuì bēngkuì. Yǒudiǎn máfan, dànshì nín míngbáile.

Lìng yīgè míngxiǎn de wèntí shì, yuènán de dà duōshù rén zhìshǎo zài duǎnqí nèi wúlì gòumǎi qìchē.

Zài yīgè qùnián rénjūn shōurù zhǐyǒu 2,587 měiyuán, qìchē jìnkǒu hé rányóu shuì dìngqí shàngzhǎng de guójiā, jìnzhǐ méiyǒu zúgòu jīchǔ shèshī lái huǎnjiě qí yǐngxiǎng de mótuō chē jiāng zhǐ huì kuòdà yuènán yǐjīng pín fù chājù.

Zhè hěn nán yùjiàn ma? Háishì nàme róngyì hūlüè?

Fādá guójiā bùshì qióngrén kěyǐ mǎi chē dì dìfāng, ér shì fù rén shíjì shǐyòng gōnggòng jiāotōng gōngjù dì dìfāng. Yīgè hǎo de zhèngfǔ yào wèi quántǐ rénmín jiějué wèntí, ér bùshì fùyǔ mǒu xiē qúntǐ tèquán.

Rúguǒ yuènán yào yǔ mótuō chē dàobié, tā shǒuxiān bìxū jiāng qí gōnggòng jiāotōng xìtǒng tígāo dào gèng gāo de shuǐpíng.

Dànshì, nàxiē shǐyòng gōnggòng jiāotōng gōngjù de rén yǐjīng shòu gòule. Bānmǎxiàn jǐn gōng zhǎnshì. Rénxíngdào jīhū bù cúnzài, dàochù dōu shì tíngchē wèi, guǎnggào pái děng děng. Gōnggòng qìchē zhàn shì kāizhe de, tōngqín zhě bìxū zài lièrì xià děngdài, nàlǐ bèi chéntǔ lóngzhào, ěrduǒ tīng lái zhèn’ěryùlóng. Nánguài rénmen huì xǐhuān mótuō chē.

Chúle gǎishàn gōnggòng jiāotōng de tiānwén shùzì, yuènán hái xūyào zhěnglǐ gōnggòng kōngjiān, gèng hǎo de zhíxíng jiāotōng guīzé, duì rénmen jìnxíng shìdàng de jiāotōng lǐyí jiàoyù. Yuènán yào jiějué qí zhòngduō de chéngshì wèntí, tāmen de gōngzuò qīngdān hěn zhǎng. Jìnzhǐ mótuō chē yǒngyuǎn dōu bù yìng liè rù qīngdān.

Dànshì yěxǔ, yěxǔ shì měihǎo de yītiān, suǒyǒu gōngjiāo chē dōu zhǔnshí yùnxíng, dìtiě zhàn jǐ mǎnle rén, dāng rénmen měi cì tíngzhǐ hùxiāng míngjiào shí, jùlí hóng dēng dōu biànle hái yǒu 10 miǎo, yěxǔ shì yuènán gōngmín zuìzhōng jiāng zhǔnbèi tuō xià tou kuī, jiāng tāmen cáng qǐlái, ránhòu jiāng qí jīdòng huà de mǎpǐ fàng huí yěwài, yěxǔ huì liúxià jǐ dī yǎnlèi.

Dànshì zhídào nà yītiān, nàxiē xiǎng jìnzhǐ mótuō chē de rén dōu yīnggāi jiā xī.

Kěyí de fǎ zhǎn jìhuà shǐ dà lè de wèilái at kě wéi

zhè zhāng zhàopiàn pāishè yú 2019 nián 3 yuè, wèiyú dà lè shì zhōngxīn de hùnníngtǔ jiànzhú.

Dà lè (Da Lat) shì wánměi de fāngshì, suǒ zuò de rènhé gēnggǎi dōu yīng zūnzhòng qí xiànzhuàng, fǒuzé tā jiāng yǒngyuǎn xiāoshī.
Bàn gè duō shìjì yǐqián, yī wèi pínqióng de dàxué xīnshēng cóng yuènán zhōngbù de shùn huà zhèn (Hue) lái dào liǎo jìn 800 gōnglǐ (500 yīnglǐ) de zhōngbù gāodì de dà lè.

Tā bān dào dà lè (Da Lat) jiārù nàlǐ de jiànzhú xuéyuàn. Tā zài xīn dìfāng yù dào de dì yīgè rén shì yīgè zài zhōngxué dúshū de nǚhái, tā zhèngzài bāngzhù tā de jiārén mài mǐ.

“Nǐ néng gàosù wǒ qù zhè suǒ chūzū fángwū de lù ma?” Tā wèn tā, xiǎnshì dìzhǐ.

Tā fàng wán hòu, zhège niánqīng rén yòu wènle yīgè wèntí:“Yī gōngjīn mǐ duōshǎo qián?”

“Liǎng gè dòng,” tā lùchū liǎng gēn shǒuzhǐ shuōdao.

Tā zài dàxué lǐ biǎoxiàn chūsè, bìng wèi gāi zhèn fùyù jiātíng de háizi tígōng fǔdǎo, qízhōng bāokuò mài mǐ de nǚhái. Tā chéngle tā jiā de chángkè, duōnián yǐhòu, tāmen jiéhūnle.

Zhè shì wǒ fùmǔ de gùshì.

Hòulái, měi dāng tāmen chǎojià shí, wúlùn shì shéi de cuò, wǒ de fùqīn huò mǔqīn dūhuì shēn chū liǎng zhī shǒuzhǐ, ér lìng yī zhī shǒuzhǐ zé yǐ hépíng de zītài tíngzhǐ zhēnglùn.

Wǒ de fùqīn Ngo Viet Thu céngjīng shuōguò, tā duì jiànzhú shī de shìyè shì chénggōng de, yīnwèi tā zǒng shì gàosù zìjǐ yào jǐn zuìdà de nǔlì qù shíxiàn duì tā de ài.

Zài dà lè dàxué wánchéng xuéyè hòu, tā jìxù jiùdú yú fàguó bālí PLS yánjiū dàxué de guólì měishù xuéyuàn (guólì měishù xuéyuàn).

Wǒ mǔqīn zuì yǐn yǐ wéi ào de chéngjiù zhī yī shì zài 1955 nián, dāngshí tā shì dì yī gè shōu dào yǒuguān wǒ fùqīn yíngdéle luómǎ dàjiǎng sài de xiāoxī de rén, zhè shì fàguó yī xiàng zhēnduì yìshù xuéshēng de fàguó jiǎngxuéjīn, yǔnxǔ tāmen zài luómǎ zhù sān dào wǔ nián. Wǔ nián xīshēngle guójiā.

Xiǎngyǒu shèngyù de jiǎngxiàng yǐ kuòzhǎn dào 1720 nián de jiànzhú,1803 nián de yīnyuè hé 1804 nián de bǎnhuà. Hòulái, wénhuà bù cháng ān dé liè·mǎ’ěr luō (AndréMalraux) yú 1968 nián fèichúle gāi jiǎngxiàng.

Zhège xiāoxī chuán biànle dà lè, bìng chuán biànle quánguó. Xǔduō rén, bāokuò guānyuán zài nèi, lái dào wǒ zài dà lè de zǔfùmǔ jiāzhōng zhùhè tāmen hé wǒ de mǔqīn.

Cóng fàguó huílái shí, fùqīn zuò de dì yī jiàn shì jiùshì bāngzhù fāzhǎn dà lè.

Tā céngjīng gàosù wǒ, wèi xiàng dà lè zhèyàng dì dìfāng zhìdìng zǒngtǐ guīhuà shì yī xiàng jiānjù de rènwù, yīnwèi gāi zhèn de héxīn jiàzhí bùshì jiànzhú wù ér shì zìrán.

Hòulái wǒ de fùmǔ cóng dà lè (Da Lat) bān dàole húzhìmíng shì (Ho Chi Minh City), xiǎoshíhòu, wǒ jǐ cì bèi dài dào dà lè (Da Lat). Dànshì zhídào wǒ shàng zhōngxué shí, wǒ cái zhēnzhèng ài shàngle xiǎo zhèn.

Nà yīkè shì wǒ zài dà lè xǐng lái de yī gè qīngchén. Wǒ dǎkāi chuānghù, kàn dào de dàochù dōu shì bó wù. Wǒ gǎndào zìjǐ míshī zài mǒu gè xiānjìng zhōng. Wù zài wǒ yǎnzhōng chéngwéile yī wèi liǎobùqǐ de yìshùjiā. Wǒ kàn dào de měi dòng bèi wù fùgài de jiànzhú wù dōu yǐ mǒu zhǒng fāngshì biàn chéngle yīzuò chéngbǎo.

Dà lè duì wǒ lái shuō shì yīkuài měilì ér làngmàn de tǔdì.

Hướng dẫn cách đọc hiểu tiếng Trung bài giảng này Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1

Lệnh cấm xe máy của Việt Nam thiếu thận trọng, chắc chắn sẽ thất bại

Lệnh cấm xe máy ở Việt Nam sẽ là một sự từ bỏ lẽ thường và là một đòn nhẹ đối với các khu vực kinh tế yếu hơn.

Tôi thậm chí không biết bắt đầu từ đâu.

Tôi đã đi suốt chiều dài Việt Nam trên một chiếc xe máy. Đó là năm 2012 và chuyến đi của tôi mất một tháng. Không giống như xe buýt, tàu hỏa hay máy bay, đi xe máy cho phép tôi khám phá nhiều nơi ít được biết đến hơn, gặp gỡ nhiều người từ mọi tầng lớp xã hội hơn và khám phá rất nhiều điều mà tôi sẽ không bao giờ có được nếu không có chiến mã hai bánh đáng tin cậy của mình.

Chưa kể nó siêu rẻ như thế nào: chuyến đi một tháng đó chỉ tiêu tốn của tôi 500 đô la. Vì vậy, với một chiếc xe máy, bạn không chỉ được tự do đi bất cứ nơi đâu bạn muốn, bất cứ khi nào bạn muốn mà còn dễ dàng hơn rất nhiều với hầu bao của bạn.

Không cần phải nói, xe máy đã trở thành phương tiện đi lại của tôi mỗi khi tôi muốn tạm dừng cuộc đua chuột thường ngày và đi đâu đó xa. Tôi chắc rằng nhiều người khác cũng có chung tình cảm.

Đối với những người nước ngoài như tôi, xe máy cũng là người Việt Nam như những tô phở thơm phức hay những ổ bánh mì hảo hạng. Họ thực tế là một phần của văn hóa Việt Nam. Gặp bất kỳ khách du lịch mới nào ở Việt Nam, bạn sẽ thấy sự thích thú, hồi hộp, thậm chí có chút sợ hãi thận trọng, tất cả hòa quyện vào nhau và thể hiện qua ánh mắt như trẻ thơ của họ khi nhìn dòng xe cộ qua lại trên các con phố ở đất nước này. Chỉ hỏi em gái tôi. Một trong những việc phải làm của cô ấy khi đến thăm tôi ở Việt Nam là “đi xe máy trên đường phố Việt Nam”.

Nhưng Hà Nội đã muốn cấm phương tiện này từ lâu. Chỉ trong tháng trước, Bộ Giao thông vận tải cũng đã công bố hỗ trợ kế hoạch của thủ đô.

Họ nói rằng xe máy là nguồn gốc của một số vấn đề đô thị, bao gồm ô nhiễm không khí, tắc đường, quá nhiều tiếng ồn và quá nhiều tai nạn.

Có thật không?

Thứ nhất, tắc đường. Một quan sát đơn giản sẽ cho thấy rằng xe máy không phải là phương tiện duy nhất trên đường. Còn ô tô thì sao? Chúng chiếm nhiều không gian hơn, nhưng thường xuyên hơn không, chỉ có tài xế hoặc phụ xe và một người khác trong mỗi người. Chưa kể họ thường xuyên lấn làn xe máy, làm gián đoạn dòng phương tiện và khiến giao thông bế tắc. Để tham khảo, chỉ cần nhìn vào một số con đường Sài Gòn như Nam Kỳ Khởi Nghĩa hay Nguyễn Văn Trỗi trong giờ cao điểm.

Thứ hai, ô nhiễm không khí. Một lần nữa, việc đơn lẻ xe máy không có ý nghĩa. Chúng không phải là những thứ duy nhất có khí thải. Ô tô, nhà máy công nghiệp, đốt rác ngoài trời – tất cả những điều này đều góp phần tạo ra khí thải độc hại. Trung Quốc đã cấm xe máy ở một số thành phố lớn, nhưng nước này lâu năm vẫn nằm trong số các quốc gia ô nhiễm không khí nhất trên thế giới.

Thứ ba, tai nạn giao thông. Tất cả chúng ta đều biết rằng đó không phải là phương tiện chúng ta sử dụng, mà là cách chúng ta cư xử trên đường giúp chúng ta an toàn. Tuân thủ luật pháp, thể hiện trách nhiệm và kỷ luật là những điều sẽ giúp bạn trở về nhà trong lành sau một ngày dài làm việc, chứ không phải tẩy chay xe máy.

Một người phụ nữ chở con trai đi học trên đường Nguyễn Trãi, Hà Nội vào sáng ngày 16 tháng 4 năm 2019. Việc cấm xe máy ở Việt Nam có thể ngăn cộng đồng người không giàu có việc làm và các cơ hội khác.

Trong khi các nhà chức trách vẫn đang tranh luận về việc liệu lệnh cấm xe máy có thực hiện được hay không, thì hậu quả của nó là rất đáng tiếc, rõ ràng là đau đớn.

Theo một nghiên cứu năm 2015 của Đại học Harvard, cách mọi người di chuyển từ nơi này sang nơi khác có thể xác định sự di chuyển của họ trên bậc thang xã hội, đặc biệt là khi nói đến sự giàu có.

Ở các quốc gia phát triển, một người sống gần ga tàu điện ngầm có nhiều cơ hội tìm được công việc tốt hơn và mức lương cao hơn những người sống xa hơn. Người nghèo có thể sống trong các khu ổ chuột và khu dân cư với cơ sở hạ tầng kém tiêu chuẩn và ít cơ hội việc làm, nhưng nếu họ có thể đi lại tự do, ví dụ như thông qua hệ thống giao thông công cộng tốt, họ có thể đến bất cứ nơi nào họ muốn để làm việc.

Bây giờ hãy nhìn vào Việt Nam. Thật khó để tìm được một vị trí ở các khu vực trung tâm thành phố, nơi có hầu hết các cơ hội việc làm, với giá bất động sản cao ngất ngưởng. Hơn hết, cấm xe máy? Điều đó không kém gì một chiếc đinh đóng trong quan tài đối với rất nhiều công nhân, với hàng triệu người phụ thuộc vào họ để làm việc.

Và thành thật mà nói, giao thông công cộng của Việt Nam không ở đâu gần đáp ứng được nhu cầu thực tế. Chừng nào không có sự thay thế khả thi cho xe máy, việc cấm chúng sẽ khiến nhiều người bị căng thẳng đáng kể, làm giảm năng suất của họ, dẫn đến thất nghiệp hàng loạt, kéo giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, và cuối cùng, gây ra suy thoái xã hội. Đó là một chút căng thẳng, nhưng bạn hiểu được vấn đề.

Một vấn đề rõ ràng khác là phần lớn người dân Việt Nam sẽ không đủ khả năng mua một chiếc ô tô, ít nhất là trong ngắn hạn.

Ở một quốc gia có thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 2.587 USD vào năm ngoái, nơi thuế nhập khẩu ô tô và nhiên liệu tăng thường xuyên, việc cấm xe máy mà không có đủ cơ sở hạ tầng để hỗ trợ tác động của nó sẽ chỉ làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo vốn đã có ở Việt Nam.

Điều này có khó lường trước được không? Hay quá dễ dàng bỏ qua?

Một quốc gia phát triển không phải là nơi người nghèo có thể mua ô tô mà là nơi người giàu thực sự sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Một chính phủ tốt sẽ giải quyết các vấn đề cho tất cả người dân, chứ không phải trao đặc quyền cho một số nhóm nhất định.

Nếu Việt Nam muốn tạm biệt xe máy, trước tiên nước này sẽ phải nâng cấp hệ thống giao thông công cộng lên các cấp cao hơn nhiều.

Tuy nhiên, những người sử dụng phương tiện giao thông công cộng đã có đủ. Ngựa vằn băng qua chỉ là để hiển thị. Vỉa hè gần như không tồn tại, tràn ngập chỗ để xe, biển quảng cáo và những thứ không đâu. Các trạm dừng xe buýt đang mở cửa, và hành khách phải chờ đợi dưới cái nắng như thiêu đốt, khói bụi mịt mù, đôi tai phải chịu tiếng ồn chói tai. Không có gì ngạc nhiên khi mọi người thích xe máy hơn.

Bên cạnh những cải tiến vượt bậc đối với giao thông công cộng, Việt Nam cần giảm bớt sự lộn xộn trong không gian công cộng, thực thi luật lệ giao thông tốt hơn, giáo dục người dân ý thức giao thông đúng mực … Danh sách việc cần làm còn dài đối với Việt Nam để giải quyết nhiều vấn đề đô thị. Cấm xe máy không nên có trong danh sách, bao giờ hết.

Nhưng có lẽ, chỉ có thể, một ngày đẹp trời khi tất cả xe buýt đều chạy đúng giờ, khi các ga tàu điện ngầm chật cứng và đông đúc, khi mọi người dừng lại bấm còi nhau mỗi khi còn 10 giây nữa là đèn đỏ – có thể, chỉ có thể thôi, công dân Việt Nam cuối cùng sẽ sẵn sàng cởi bỏ mũ bảo hiểm, cất đi và thả những con ngựa có động cơ của họ trở lại tự nhiên, có lẽ đã rơi một vài giọt nước mắt.

Nhưng cho đến ngày đó, những người nghĩ đến việc cấm xe máy nên đi bộ đường dài.

Các kế hoạch phát triển nổi tiếng đặt tương lai của Đà Lạt vào tình thế bị đe dọa

Những tòa nhà bê tông ở trung tâm thành phố Đà Lạt trong bức ảnh này được chụp vào tháng 3 năm 2019.

Đà Lạt vẫn hoàn hảo theo cách của nó, và bất kỳ thay đổi nào được thực hiện phải tôn trọng hiện trạng của nó, nếu không nó sẽ biến mất vĩnh viễn.
Hơn nửa thế kỷ trước, một sinh viên năm nhất đại học kém đi từ thị trấn Huế ở miền Trung Việt Nam đến Đà Lạt ở Tây Nguyên, gần 800 km (500 dặm).

Anh chuyển lên Đà Lạt theo học trường Cao đẳng Kiến trúc tại đó. Người đầu tiên anh gặp ở nơi ở mới là một cô gái đang học cấp 2 đang phụ giúp gia đình bán gạo.

“Anh có thể cho tôi biết đường đến căn nhà thuê này được không?” anh hỏi cô, chỉ địa chỉ.

Sau khi cô làm xong, anh thanh niên hỏi thêm một câu: “Một kg gạo bao nhiêu tiền?”

“Hai đồng,” cô nói và chìa hai ngón tay ra.

Anh ấy học tốt ở trường đại học và dạy kèm cho trẻ em của những gia đình giàu có của thị trấn, bao gồm cả cô gái bán gạo. Anh trở thành khách quen tại nhà cô, và nhiều năm sau họ kết hôn.

Đây là câu chuyện của cha mẹ tôi.

Sau này, mỗi khi cãi nhau, dù lỗi của ai, mẹ hoặc bố tôi đều chỉ hai ngón tay, còn người kia sẽ coi đó là dấu hiệu hòa bình để chấm dứt cuộc cãi vã.

Bố tôi, ông Ngô Viết Thụ, từng nói rằng chính mẹ tôi đã có một sự nghiệp kiến trúc thành công vì ông luôn tự nhủ phải cố gắng hết sức mình để xứng đáng với tình yêu mà bà đã dành cho ông.

Sau khi học xong đại học tại Đà Lạt, ông tiếp tục theo học tại École nationale supérieure des Beaux-Arts (Trường Mỹ thuật Quốc gia) thuộc Đại học Nghiên cứu PLS ở Paris, Pháp.

Một trong những thành tích của ông mà mẹ tôi tự hào nhất là vào năm 1955 khi bà là người đầu tiên nhận được tin bố tôi đã giành được giải Grand Prix de Rome, một học bổng của Pháp dành cho sinh viên nghệ thuật cho phép họ ở lại Rome trong 3 năm. năm năm với chi phí của nhà nước.

Giải thưởng danh giá đã được mở rộng cho kiến trúc vào năm 1720, âm nhạc vào năm 1803 và chạm khắc vào năm 1804. Sau đó nó đã bị bãi bỏ vào năm 1968 bởi Bộ trưởng Bộ Văn hóa André Malraux.

Tin tức lan truyền khắp Đà Lạt và khắp cả nước. Nhiều người, kể cả các quan chức, đã đến nhà ông bà tôi ở Đà Lạt để chúc mừng họ và mẹ tôi.

Khi trở về từ Pháp, một trong những điều đầu tiên cha tôi làm là giúp phát triển Đà Lạt.

Anh ấy từng nói với tôi rằng việc xây dựng quy hoạch tổng thể cho một nơi như Đà Lạt là một việc khó khăn vì giá trị cốt lõi của thành phố không phải là các tòa nhà mà là thiên nhiên.

Sau đó, bố mẹ tôi chuyển từ Đà Lạt vào thành phố Hồ Chí Minh, và khi còn là một cậu bé, tôi đã được đưa đến Đà Lạt vài lần. Nhưng phải đến khi học cấp 2, tôi mới thực sự yêu thị.

Khoảnh khắc đó đến vào một buổi sáng sớm khi tôi thức dậy ở Đà Lạt. Tôi mở cửa sổ và những gì tôi thấy là sương mù khắp nơi. Tôi như lạc vào xứ sở thần tiên nào đó. Sương mù trở thành một nghệ sĩ tuyệt vời trong mắt tôi. Mỗi tòa nhà tôi nhìn thấy bị bao phủ trong sương mù bằng cách nào đó đã biến thành một lâu đài.

Đà Lạt đối với tôi là một vùng đất rất đẹp và thơ mộng với những con người thật tốt bụng.

Vậy là bài giảng hôm nay Tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 1 cùng thầy Vũ đến đây là hết rồi,cảm ơn các bạn đã chú ý theo dõi,chúc các bạn học tập thật tốt nhé.

Bài giảng liên quan

Để lại Bình luận của bạn