Home Học tiếng Trung online Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3

Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3

by Nguyễn Phương Thảo
15 views
Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3

Bài giảng Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính

Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3 là bài tập Thầy Vũ hướng dẫn các bạn học viên và thành viên diễn đàn ChineMaster nâng cao kỹ năng gõ tiếng Trung trên máy tính bằng bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin. Đây là một trong những bài giảng cực kỳ uy tín của Thầy Vũ sẽ giúp các bạn thành thạo kỹ năng đánh máy tiếng Trung thông qua phần mềm gõ tiếng Trung sogou pinyin. Kỹ năng gõ tiếng Trung Quốc trên máy tính là cực kỳ quan trọng. Nó sẽ giúp chúng ta có thể dễ dàng tiếp cận và giao lưu với đối tác Trung Quốc trên wechat. Bạn nào chưa có tài khoản wechat thì tạo nhanh lên nhé, càng sớm càng tốt. Chúng ta sẽ cần sử dụng kỹ năng gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính trong suốt quãng thời gian làm việc với người Trung Quốc. Do đó, Thầy Vũ liên tục ngày nào cũng đưa ra rất nhiều dạng bài tập nâng cao kỹ năng soạn thảo văn bản tiếng Trung bằng bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin.

Các bạn hãy nhanh tay truy cập vào link dưới đây để tải được bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin mới nhất và hay nhất do Thạc sĩ Nguyễn Minh Vũ đăng tải,bộ gõ tiếng trung trên máy tính này không những giúp các bạn thành thạo hơn trong việc ghi nhớ chữ viết mà còn nâng cao thêm khả năng học tiếng Trung của các bạn.

Cách tải bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin mới nhất

Hiện nay Thầy Vũ đã mở thêm lớp học đào tạo về tiếng Trung Thương mại,các bạn có nhu cầu học thì hãy tham khảo tại link phía dưới đây nhé.

Tham khảo khoá học tiếng Trung thương mại

Dưới đây là một khóa học rất hấp dẫn dành cho những bạn muốn tìm hiểu về cách nhập hàng trên ứng dụng mua sắm lớn nhất Trung Quốc TAOBAO TMALL ,nếu các bạn có hứng thú hay nhu cầu thì hãy nhanh tay truy cập vào link sau nhé

Nhập hàng Trung Quốc tận gốc taobao tmall 1688

Hiện nay Trung tâm tiếng Trung ChineMaster  đã có Cơ sở 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh Quận 10 rồi. Các bạn hãy vào xem thông tin chi tiết lịch khai giảng mới nhất ở cơ sở tại Hà Nội và TP HCM tại link sau nhé

Đăng kí lớp học tiếng Trung ChineMaster Hà Nội

Đăng kí lớp học tiếng Trung ChineMaster TP HCM Quận 10

Còn những bạn nào ở  xa Trung tâm tiếng Trung ChineMaster quá không thể đến học trực tiếp thì có thể tham gia các lớp tiếng Trung giao tiếp online qua Skype cùng Thầy Vũ tại link dưới đây nhé.

Tham gia lớp học tiếng Trung online qua Skype

Dưới đây sẽ là nội dung chi tiết của bài học ngày hôm nay Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3 cùng Thầy Vũ,các bạn nhớ chú ý theo dõi nhé.

Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3

Hôm nay bài tập luyện kỹ năng gõ tiếng Trung sogou pinyin của chúng ta là bài tập luyện dịch tiếng Trung ứng dụng thực tế. Các bạn xem chi tiết nội dung bài giảng lớp học tiếng Trung online ngày 26 tháng 2 năm 2021 chuyên đề luyện tập gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính.

他们对破坏其天际线的烟囱以及从煤灰场排放的粉尘和其他有毒物质感到不满,这些灰尘和其他有毒物质污染了地下水,海洋和海洋资源,这是其主要的生计来源。

工业贸易部的数据显示,自第一台Vinh Tan 2发电机运行以来的不到五年时间,Vinh Tan产生了450万立方米的煤灰。

如果将煤灰放在容量为30吨的40英尺的容器中,则所有工厂的煤灰都将需要127,000个煤灰。

一列运输全部货运的货运列车将延伸1,900公里(1,180英里)。

但是Vinh Tan并不是越南唯一的火力发电厂-全国还有十多个火力发电厂-而且它们正在制造大量的煤灰。

在平顺的“聚会”上有一个值得注意的事实:2015年是越南从能源出口国转变为进口商的一年,其中最大的进口是火力发电厂的煤炭。

超过120年的煤炭出口历史被新的篇章所取代,新的篇章越来越黑。

越南在2018年花费了超过20亿美元用于进口煤炭,在过去10年中,其煤炭消耗量跃升了350%,而全球平均水平为26%。

但是越南对煤炭的依赖还没有结束,甚至更糟了。

一段时间以来,人们已经知道燃煤电厂排放的污染物会破坏空气,水源,土壤,破坏生态系统并引起疾病。此外,燃煤电厂项目被认为是排放温室气体的主要原因,这是全球变暖和气候变化的原因。

世界银行前行长吉姆·金(Jim Yong Kim)在2016年表示:“如果越南以40吉瓦的煤炭向前发展,如果整个亚洲地区现在都在实施以煤炭为基础的计划,我认为我们已经完成了。对我们和我们的星球来说都是灾难。”

将火电项目作为越南电力发展的支柱的政策一直是吸引对清洁能源项目投资的障碍。

仅在平顺市的Tuy Phong区,我们可以看到两种相反的情况。南部是带有涡轮机的风电场,受到当地人民的热烈欢迎并生产绿色能源。北部是Vinh Tan电力中心,这是Vinh Tan伞下五个火力发电厂的总部,需要特别的安全保护。

越南中南部平顺省的Vinh Tan火电综合体的一部分。

这两个故事足以说明一个紧迫的需求:政府需要发布一项以清洁能源为中心的新电力发展计划,并制定一个路线图,以尽可能地放弃或限制火力发电。最重要的问题应该是:如何确保国家能源安全,同时又创造繁荣,从而改善每个居民的生活质量?

直到最近,由于国家能源安全的重要性,工业和贸易部一直劝告公众不要对火力发电采取极端立场。但是公众的同情不能永远持续下去,人们需要在为时已晚之前看到美国的新能源战略。

在2016年的一份报告中,能源与气候情报部门-一个支持英国能源与气候变化问题的知情辩论的非营利组织-将中国,印度,印度尼西亚和越南列为“四只老虎”,是世界上最大的四只老虎煤炭发电项目管道占全球煤炭发电容量的74%。这样的名字并不引以为豪。

世界银行驻越南国家主管欧斯曼·迪奥内曾经说过,在经济蓬勃发展时,越南“绝不愿意变成被粉煤灰包围的金龙”是至关重要的。

为了自己的利益,越南应该坚持农业

越南一直是一个农业大国。毕竟,关于工业化的烦恼,农业仍然是我们的救赎恩典。

关于越南的农业产业,有一个有趣的故事。

30多年来,越南一直是大米的主要出口国,但每年都陷入一个循环,政府,银行和本地公司必须伸出援手,以储存大米,并确保价格不会不受控制地下跌。

越南是一个农业大国,这是事实。每个人都知道这一点,但是每个季节,我们都会听到有关必须使农民摆脱一个困境或另一个困境的故事。发起了运动,呼吁人们从农民那里购买水果或蔬菜,因为供应超过了需求;市场价格急剧下降,以至于有些农民决定扔掉所有农产品或用它们来养牛。

为了应对这些矛盾的发展,并确保那些依靠农业的人们获得可持续的生计,我们需要改变思维方式;改变人们的思维方式,就像人们最近经常说的那样。

迈(Mai)是现在和我一样住在加拿大的海外越南人,最近打来电话,要我买刚到温哥华的大米。

她告诉我,这是收获季节的第一批,根据她从一个农业家庭长大后获得的经验,在此期间收获的水稻是最好的。

然而,最后,我们并不满意。

大米不是起源于越南,而是泰国。尽管为支持我们的农民付出了很多努力,但我们在加拿大市场上找不到任何越南大米。

另一方面,泰国大米在加拿大的声誉不断提高,加拿大是越来越多亚洲人选择定居的地方。泰国大米在加拿大的最低价格本周为每吨2,000加元,而越南大米的价格继续下降,目前保持在每吨400加元以下。在过去的一周里,在阅读越南新闻时,我反复看到“节省大米的价格”这一短语。

我们,海外越南人,很想在我们的日常饭菜中加入越南大米。同时,在我们的祖国,成千上万的农民正在等待,希望贸易商来到他们的田地,以至即使他们以低于市场价格的价格出售稻谷,也几乎没有希望。

去年10月的一天,我看到越南中南部沿海省份平顺(Binh Thuan)的农民的照片,因为价格跌至每公斤仅越南盾1,000越南盾(4.3美分),他们扔掉了火龙果。那天,我在温哥华的一家越南产品超市发现了一些未被发现的火龙果,每公斤的价格约为10万越南盾。

经过一段时间的研究,我得知火龙果是温哥华唯一可用的越南水果。

出口商必须克服很多困难才能获得大米或火龙果等农产品以满足加拿大的出口要求,这就是为什么这些产品在加拿大市场上价格较高的原因。

如果这种产品来自经过认证的清洁有机农业系统,价格将会高得多。

例如,一种泰国有机茉莉香米的价格高达每吨10,000美元,是普通大米的五倍。仅在加拿大市场,对有机农产品的需求就价值约42亿加元。同时,美国有机农产品的市场价值为494亿美元。

印度市场研究公司Zion预测,到2024年,有机农产品的全球市场价值将达到3230亿美元,并且每年以15%的速度增长。

去年下半年,由于公众的关注很少,越南有机农业迈出了一大步,政府颁布了一项法令,对从事有机农业的小公司,合作社和农户提供优惠条件和援助。该法令说,政府将资助所有有机产品认证费用和验证有资格进行有机生产的地区的费用。

此外,很少有人知道越南是20年前与瑞士合作在南部省Ca Mau的一个项目中繁殖的世界上第一个使用有机大虾的国家。

正如他们所说,迟到总比没有好。

自从1986年采取经济改革政策土井莫伊(Doi Moi)30多年来,越南就不断追求成为工业化国家的梦想,但这距离目标还很遥远。越南一直依靠廉价劳动力,这有助于降低利用此类人力资源的生产成本,以吸引外国投资,而不是使其生产过程工业化。

越南北部农民收割水稻。

发展我们的农业部门,而不是成为其他工业国家的工业流程的后台,基本上,它们的讲习班将帮助越南解决三个主要问题:粮食安全,能源安全和环境安全。越南发布十年农业决议,对农民以及对农业和农村地区进行投资的企业提供优惠政策,包括为农民提供更多职业培训课程,以提高他们的技能,越南农业,林业和渔业的出口价值去年,这些产品的收入增长了四倍,达到405亿美元。

对于一个拥有近1亿人口的国家来说,粮食安全应该是头等大事。优先发展农业而不是工业将抑制并减少能源供应的需求,从而改善能源安全并最大程度地降低环境风险,尤其是燃煤发电项目带来的环境风险。

从更高的层次上讲,有机农业是环境友好的,并且可以为生态系统的所有组成部分建立公平的关系。清洁和有机农业可以有助于防止环境污染,这是化学农业几十年来一直在创造的东西。

越南有65%的人口居住在农村地区,越南可以将农业发展视为应对人口离开农村地区居住并在大城市寻找工作的上升趋势的一种方式。

一次,我希望政府和每个越南人都能对稻田产生热爱,回归农业,并以新的思维方式继续祖先的道路。

只要政府决心发展清洁和有机农业,我们就可以对越南农产品和农民的光明前景更加乐观,因为越南可以成为经济,社会和环境相处的地方。

这是越南的正确道路。依靠我们的传统力量,确保真正的安全(粮食安全)并为后代保留我们的土地和其他自然资源,而不是以现代化的名义污染和永久破坏它,才有道理。

Phiên âm tiếng Trung cho bài tập luyện gõ tiếng Trung sogou pinyin Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3

Tāmen duì pòhuài qí tiānjì xiàn de yāncōng yǐjí cóng méi huī chǎng páifàng de fěnchén hé qítā yǒudú wùzhí gǎndào bùmǎn, zhèxiē huīchén hé qítā yǒudú wùzhí wūrǎnle dìxiàshuǐ, hǎiyáng hé hǎiyáng zīyuán, zhè shì qí zhǔyào de shēngjì láiyuán.

Gōngyè màoyì bù de shùjù xiǎnshì, zì dì yī tái Vinh Tan 2 fādiàn jī yùnxíng yǐlái de bù dào wǔ nián shíjiān,Vinh Tan chǎnshēngle 450 wàn lìfāng mǐ de méi huī.

Rúguǒ jiāng méi huī fàng zài róngliàng wèi 30 dūn de 40 yīngchǐ de róngqì zhōng, zé suǒyǒu gōngchǎng de méi huī dōu jiāng xūyào 127,000 gè méi huī.

Yīliè yùnshū quánbù huòyùn de huòyùn lièchē jiāng yánshēn 1,900 gōnglǐ (1,180 yīnglǐ).

Dànshì Vinh Tan bìng bùshì yuènán wéiyī de huǒlì fādiànchǎng-quánguó hái yǒu shí duō gè huǒlì fādiànchǎng-érqiě tāmen zhèngzài zhìzào dàliàng de méi huī.

Zài píngshùn de “jùhuì” shàng yǒu yīgè zhídé zhùyì de shìshí:2015 Nián shì yuènán cóng néngyuán chūkǒu guó zhuǎnbiàn wéi jìnkǒu shāng de yī nián, qízhōng zuìdà de jìnkǒu shì huǒlì fādiàn chǎng de méitàn.

Chāoguò 120 nián de méitàn chūkǒu lìshǐ bèi xīn de piānzhāng suǒ qǔdài, xīn de piānzhāng yuè lái yuè hēi.

Yuènán zài 2018 nián huāfèile chāoguò 20 yì měiyuán yòng yú jìnkǒu méitàn, zài guòqù 10 nián zhōng, qí méitàn xiāohào liàng yuèshēngle 350%, ér quánqiú píngjūn shuǐpíng wèi 26%.

Dànshì yuènán duì méitàn de yīlài hái méiyǒu jiéshù, shènzhì gèng zāole.

Yīduàn shíjiān yǐlái, rénmen yǐjīng zhīdào rán méi diàn chǎng páifàng de wūrǎn wù huì pòhuài kōngqì, shuǐyuán, tǔrǎng, pòhuài shēngtài xìtǒng bìng yǐnqǐ jíbìng. Cǐwài, rán méi diàn chǎng xiàngmù bèi rènwéi shì páifàng wēnshì qìtǐ de zhǔyào yuányīn, zhè shì quánqiú biàn nuǎnhuo qìhòu biànhuà de yuányīn.

Shìjiè yínháng qián xíng zhǎng jímǔ·jīn (Jim Yong Kim) zài 2016 nián biǎoshì:“Rúguǒ yuènán yǐ 40 jí wǎ de méitàn xiàng qián fāzhǎn, rúguǒ zhěnggè yàzhōu dìqū xiànzài dōu zài shíshī yǐ méitàn wèi jīchǔ de jìhuà, wǒ rènwéi wǒmen yǐjīng wánchéngle. Duì wǒmen hé wǒmen de xīngqiú lái shuō dōu shì zāinàn.”

Jiāng huǒdiàn xiàngmù zuòwéi yuènán diànlì fāzhǎn de zhīzhù de zhèngcè yīzhí shì xīyǐn duì qīngjié néngyuán xiàngmù tóuzī de zhàng’ài.

Jǐn zài píngshùn shì de Tuy Phong qū, wǒmen kěyǐ kàn dào liǎng zhǒng xiāngfǎn de qíngkuàng. Nánbù shì dài yǒu wōlúnjī de fēngdiàn chǎng, shòudào dāngdì rénmín de rèliè huānyíng bìng shēngchǎn lǜsè néngyuán. Běibù shì Vinh Tan diànlì zhōngxīn, zhè shì Vinh Tan sǎn xià wǔ gè huǒlì fādiàn chǎng de zǒngbù, xūyào tèbié de ānquán bǎohù.

Yuènán zhōng nánbù píngshùn shěng de Vinh Tan huǒdiàn zònghé tǐ de yībùfèn.

Zhè liǎng gè gùshì zúyǐ shuōmíng yīgè jǐnpò de xūqiú: Zhèngfǔ xūyào fābù yī xiàng yǐ qīngjié néngyuán wéi zhōngxīn de xīn diànlì fāzhǎn jìhuà, bìng zhìdìng yīgè lùxiàn tú, yǐ jǐn kěnéng de fàngqì huò xiànzhì huǒlì fādiàn. Zuì zhòngyào de wèntí yīnggāi shì: Rúhé quèbǎo guójiā néngyuán ānquán, tóngshí yòu chuàngzào fánróng, cóng’ér gǎishàn měi gè jūmín de shēnghuó zhìliàng?

Zhídào zuìjìn, yóuyú guójiā néngyuán ānquán de zhòngyào xìng, gōngyè hé màoyì bù yīzhí quàngào gōngzhòng bùyào duì huǒlì fādiàn cǎiqǔ jíduān lìchǎng. Dànshì gōngzhòng de tóngqíng bùnéng yǒngyuǎn chíxù xiàqù, rénmen xūyào zài wéi shí yǐ wǎn zhīqián kàn dào měiguó de xīn néngyuán zhànlüè.

Zài 2016 nián de yī fèn bàogào zhōng, néngyuán yǔ qìhòu qíngbào bùmén-yīgè zhīchí yīngguó néngyuán yǔ qìhòu biànhuà wèntí de zhīqíng biànlùn de fēi yínglì zǔzhī-jiàng zhōngguó, yìndù, yìndùníxīyà hé yuènán liè wèi “sì zhǐ lǎohǔ”, shì shìjiè shàng zuìdà de sì zhǐ lǎohǔ méitàn fādiàn xiàngmù guǎndào zhàn quánqiú méitàn fādiàn róngliàng de 74%. Zhèyàng de míngzì bìng bù yǐn yǐ wéi háo.

Shìjiè yínháng zhù yuènán guójiā zhǔguǎn ōu sī màn·dí’ào nèi céngjīng shuōguò, zài jīngjì péngbó fāzhǎn shí, yuènán “jué bù yuànyì biàn chéng bèi fěn méi huī bāowéi de jīnlóng” shì zhì guān zhòngyào de.

Wèile zìjǐ de lìyì, yuènán yīnggāi jiānchí nóngyè

yuènán yīzhí shì yīgè nóngyè dàguó. Bìjìng, guānyú gōngyèhuà de fánnǎo, nóngyè réngrán shì wǒmen de jiùshú ēndiǎn.

Guānyú yuènán de nóngyè chǎnyè, yǒu yīgè yǒuqù de gùshì.

30 Duōnián lái, yuènán yīzhí shì dàmǐ de zhǔyào chūkǒu guó, dàn měinián dōu xiànrù yīgè xúnhuán, zhèngfǔ, yínháng hé běndì gōngsī bìxū shēn chū yuánshǒu, yǐ chúcún dàmǐ, bìng quèbǎo jiàgé bù huì bù shòu kòngzhì dì xiàdié.

Yuènán shì yīgè nóngyè dàguó, zhè shì shìshí. Měi gèrén dōu zhīdào zhè yīdiǎn, dànshì měi gè jìjié, wǒmen dūhuì tīng dào yǒuguān bìxū shǐ nóngmín bǎituō yīgè kùnjìng huò lìng yīgè kùnjìng de gùshì. Fāqǐle yùndòng, hūyù rénmen cóng nóngmín nàlǐ gòumǎi shuǐguǒ huò shūcài, yīnwèi gōngyìng chāoguòle xūqiú; shìchǎng jiàgé jíjù xiàjiàng, yǐ zhìyú yǒuxiē nóngmín juédìng rēng diào suǒyǒu nóngchǎnpǐn huò yòng tāmen lái yǎng niú.

Wèile yìngduì zhèxiē máodùn de fǎ zhǎn, bìng quèbǎo nàxiē yīkào nóngyè de rénmen huòdé kě chíxù de shēngjì, wǒmen xūyào gǎibiàn sīwéi fāngshì; gǎibiàn rénmen de sīwéi fāngshì, jiù xiàng rénmen zuìjìn jīngcháng shuō dì nàyàng.

Mài (Mai) shì xiànzài hé wǒ yīyàng zhù zài jiānádà dì hǎiwài yuènán rén, zuìjìn dǎ lái diànhuà, yào wǒ mǎi gāng dào wēngēhuá de dàmǐ.

Tā gàosù wǒ, zhè shì shōuhuò jìjié de dì yī pī, gēnjù tā cóng yīgè nóngyè jiātíng zhǎng dà hòu huòdé de jīngyàn, zài cǐ qíjiān shōuhuò de shuǐdào shì zuì hǎo de.

Rán’ér, zuìhòu, wǒmen bìng bù mǎnyì.

Dàmǐ bùshì qǐyuán yú yuènán, ér shì tàiguó. Jǐnguǎn wèi zhīchí wǒmen de nóngmín fùchūle hěnduō nǔlì, dàn wǒmen zài jiānádàshìchǎng shàng zhǎo bù dào rènhé yuènán dàmǐ.

Lìng yī fāngmiàn, tàiguó dàmǐ zài jiānádà de shēngyù bùduàn tígāo, jiānádà shì yuè lái yuè duō yàzhōu rén xuǎnzé dìngjū dì dìfāng. Tàiguó dàmǐ zài jiānádà de zuìdī jiàgé běn zhōu wèi měi dūn 2,000 jiā yuán, ér yuènán dàmǐ de jiàgé jìxù xiàjiàng, mùqián bǎochí zài měi dūn 400 jiā yuán yǐxià. Zài guòqù de yīzhōu lǐ, zài yuèdú yuènán xīnwén shí, wǒ fǎnfù kàn dào “jiéshěng dàmǐ de jiàgé” zhè yī duǎnyǔ.

Wǒmen, hǎiwài yuènán rén, hěn xiǎng zài wǒmen de rìcháng fàncài zhōng jiārù yuènán dàmǐ. Tóngshí, zài wǒmen de zǔguó, chéng qiān shàng wàn de nóngmín zhèngzài děngdài, xīwàng màoyì shāng lái dào tāmen de tiándì, yǐzhì jíshǐ tāmen yǐ dī yú shìchǎng jiàgé de jiàgé chūshòu dàogǔ, yě jīhū méiyǒu xīwàng.

Qùnián 10 yuè de yītiān, wǒ kàn dào yuènán zhōng nánbù yánhǎi shěngfèn píngshùn (Binh Thuan) de nóngmín de zhàopiàn, yīnwèi jiàgé diē zhì měi gōngjīn jǐn yuènán dùn 1,000 yuènán dùn (4.3 Měi fēn), tāmen rēng diàole huǒlóng guǒ. Nèitiān, wǒ zài wēngēhuá de yījiā yuènán chǎnpǐn chāoshì fāxiànle yīxiē wèi pī fà xiàn de huǒlóng guǒ, měi gōngjīn de jiàgé yuē wèi 10 wàn yuènán dùn.

Jīngguò yīduàn shíjiān de yánjiū, wǒ dé zhī huǒlóng guǒ shì wēngēhuá wéiyī kěyòng de yuènán shuǐguǒ.

Chūkǒu shāng bìxū kèfú hěnduō kùnnán cáinéng huòdé dàmǐ huò huǒlóng guǒ děng nóngchǎnpǐn yǐ mǎnzú jiānádà de chūkǒu yāoqiú, zhè jiùshì wèishéme zhèxiē chǎnpǐn zài jiānádà shìchǎng shàng jiàgé jiào gāo de yuányīn.

Rúguǒ zhè zhǒng chǎnpǐn láizì jīngguò rènzhèng de qīngjié yǒujī nóngyè xìtǒng, jiàgé jiāng huì gāo dé duō.

Lìrú, yī zhǒng tàiguó yǒujī mòlì xiāng mǐ de jiàgé gāodá měi dūn 10,000 měiyuán, shì pǔtōng dàmǐ de wǔ bèi. Jǐn zài jiānádà shìchǎng, duì yǒujī nóngchǎnpǐn de xūqiú jiù jiàzhí yuē 42 yì jiā yuán. Tóngshí, měiguó yǒujī nóngchǎnpǐn de shìchǎng jiàzhí wèi 494 yì měiyuán.

Yìndù shìchǎng yánjiū gōngsī Zion yùcè, dào 2024 nián, yǒujī nóngchǎnpǐn de quánqiú shìchǎng jiàzhí jiāng dádào 3230 yì měiyuán, bìngqiě měinián yǐ 15%de sùdù zēngzhǎng.

Qùnián xia bànnián, yóuyú gōngzhòng de guānzhù hěn shǎo, yuènán yǒujī nóngyè mài chūle yī dà bù, zhèngfǔ bānbùle yī xiàng fǎlìng, duì cóngshì yǒujī nóngyè de xiǎo gōngsī, hézuòshè hé nónghù tígōng yōuhuì tiáojiàn hé yuánzhù. Gāi fǎlìng shuō, zhèngfǔ jiāng zīzhù suǒyǒu yǒujī chǎnpǐn rènzhèng fèiyòng hé yànzhèng yǒu zīgé jìnxíng yǒujī shēngchǎn dì dìqū de fèiyòng.

Cǐwài, hěn shǎo yǒurén zhīdào yuènán shì 20 nián qián yǔ ruìshì hézuò zài nánbù shěng Ca Mau de yīgè xiàngmù zhōng fánzhí de shìjiè shàng dì yīgè shǐyòng yǒujī dà xiā de guójiā.

Zhèngrú tāmen suǒ shuō, chídào zǒng bǐ méiyǒu hǎo.

Zìcóng 1986 nián cǎiqǔ jīngjì gǎigé zhèngcè tǔjǐng mò yī (Doi Moi)30 duōnián lái, yuènán jiù bùduàn zhuīqiú chéngwéi gōngyèhuà guójiā de mèngxiǎng, dàn zhè jùlí mùbiāo hái hěn yáoyuǎn. Yuènán yīzhí yīkào liánjià láodònglì, zhè yǒu zhù yú jiàngdī lìyòng cǐ lèi rénlì zīyuán de shēngchǎn chéngběn, yǐ xīyǐn wàiguó tóuzī, ér bùshì shǐ qí shēngchǎn guòchéng gōngyèhuà.

Yuènán běibù nóngmín shōugē shuǐdào.

Fāzhǎn wǒmen de nóngyè bùmén, ér bùshì chéngwéi qítā gōngyè guójiā de gōngyè liúchéng de hòutái, jīběn shàng, tāmen de jiǎngxí bān jiāng bāngzhù yuènán jiějué sān gè zhǔyào wèntí: Liángshí ānquán, néngyuán ānquán hé huánjìng ānquán. Yuènán fābù shí nián nóngyè juéyì, duì nóngmín yǐjí duì nóngyè hé nóngcūn dìqū jìnxíng tóuzī de qǐyè tígōng yōuhuì zhèngcè, bāokuò wèi nóngmín tígōng gèng duō zhíyè péixùn kèchéng, yǐ tígāo tāmen de jìnéng, yuènán nóngyè, línyè hé yúyè de chūkǒu jiàzhí qùnián, zhèxiē chǎnpǐn de shōurù zēngzhǎngle sì bèi, dádào 405 yì měiyuán.

Duìyú yī gè yǒngyǒu jìn 1 yì rénkǒu de guójiā lái shuō, liángshí ānquán yīnggāi shì tóuděng dà shì. Yōuxiān fāzhǎn nóngyè ér bùshì gōngyè jiāng yìzhì bìng jiǎnshǎo néngyuán gōngyìng de xūqiú, cóng’ér gǎishàn néngyuán ānquán bìng zuìdà chéngdù de jiàngdī huánjìng fēngxiǎn, yóuqí shì rán méi fādiàn xiàngmù dài lái de huánjìng fēngxiǎn.

Cóng gèng gāo de céngcì shàng jiǎng, yǒujī nóngyè shì huánjìng yǒuhǎo de, bìngqiě kěyǐ wéi shēngtài xìtǒng de suǒyǒu zǔchéng bùfèn jiànlì gōngpíng de guānxì. Qīngjié hé yǒujī nóngyè kěyǐ yǒu zhù yú fángzhǐ huánjìng wūrǎn, zhè shì huàxué nóngyè jǐ shí niánlái yīzhí zài chuàngzào de dōngxī.

Yuènán yǒu 65%de rénkǒu jūzhù zài nóngcūn dìqū, yuènán kěyǐ jiāng nóngyè fāzhǎn shì wéi yìngduì rénkǒu líkāi nóngcūn dìqū jūzhù bìng zài dà chéngshì xúnzhǎo gōngzuò de shàngshēng qūshì de yī zhǒng fāngshì.

Yīcì, wǒ xīwàng zhèngfǔ hé měi gè yuènán rén dōu néng duì dàotián chǎnshēng rè’ài, huíguī nóngyè, bìng yǐ xīn de sīwéi fāngshì jìxù zǔxiān de dàolù.

Zhǐyào zhèngfǔ juéxīn fāzhǎn qīngjié hé yǒujī nóngyè, wǒmen jiù kěyǐ duì yuènán nóngchǎnpǐn hé nóngmín de guāngmíng qiánjǐng gèngjiā lèguān, yīnwèi yuènán kěyǐ chéngwéi jīngjì, shèhuì hé huánjìng xiāngchǔ dì dìfāng.

Zhè shì yuènán de zhèngquè dàolù. Yīkào wǒmen de chuántǒng lìliàng, quèbǎo zhēnzhèng de ānquán (liángshí ānquán) bìng wèi hòudài bǎoliú wǒmen de tǔdì hé qítā zìrán zīyuán, ér bùshì yǐ xiàndàihuà de míngyì wūrǎn hé yǒngjiǔ pòhuài tā, cái yǒu dàolǐ.

Cách làm bài tập kỹ năng đọc hiểu tiếng Trung dịch sang tiếng Việt Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3

Họ không hài lòng với những ống khói phá hủy đường chân trời của họ và bụi và các chất độc hại khác mà nó thải ra từ bãi tro than gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, biển và các nguồn tài nguyên biển, nguồn sinh kế chính của họ.

Trong vòng chưa đầy 5 năm kể từ khi tổ máy đầu tiên của Vĩnh Tân 2 hoạt động, số liệu của Bộ Công Thương cho thấy, Vĩnh Tân đã thải ra 4,5 triệu m3 tro than.

Nếu tro than được đóng trong các container 40 feet với công suất 30 tấn, mỗi container 127.000 sẽ cần cho toàn bộ tro xỉ của nhà máy.

Một chuyến tàu chở hàng để vận chuyển tất cả chúng sẽ kéo dài 1.900 km (1.180 dặm).

Nhưng Vĩnh Tân không phải là nhà máy nhiệt điện duy nhất ở Việt Nam – có hơn 10 nhà máy khác trên khắp cả nước – và chúng đang tạo ra những núi tro than.

Có một thực tế cần lưu ý xung quanh các cuộc “tập kết” ở Bình Thuận: Năm 2015 là năm Việt Nam chuyển từ nước xuất khẩu năng lượng sang nhập khẩu, trong đó nhập khẩu lớn nhất là than cho các nhà máy nhiệt điện.

Lịch sử hơn 120 năm xuất khẩu than đã được thay thế bằng một chương mới, một chương ngày càng đen tối.

Năm 2018, Việt Nam đã chi hơn 2 tỷ USD để nhập khẩu than, và trong 10 năm qua, tiêu thụ than của nước này đã tăng 350% so với mức trung bình toàn cầu là 26%.

Nhưng tình trạng nghiện than ở Việt Nam vẫn chưa chấm dứt, và thậm chí mọi thứ còn trở nên tồi tệ hơn.

Từ lâu các chất ô nhiễm do các nhà máy nhiệt điện than thải ra đã được biết đến là tác nhân gây hại đến không khí, nguồn nước, đất, phá hủy hệ sinh thái và gây bệnh. Bên cạnh đó, các dự án nhà máy than được coi là thủ phạm chính phát thải khí nhà kính, nguyên nhân dẫn đến sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu.

Jim Yong Kim, cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, cho biết vào năm 2016: “Nếu Việt Nam tiếp tục phát triển với 40GW than, nếu toàn bộ khu vực [Châu Á] thực hiện các kế hoạch dựa trên than ngay bây giờ, tôi nghĩ rằng chúng ta đã hoàn thành. thảm họa cho chúng ta và hành tinh của chúng ta. ”

Chính sách coi các dự án nhiệt điện là trụ cột phát triển điện lực của Việt Nam đã và đang là rào cản trong việc thu hút đầu tư vào các dự án năng lượng sạch.

Riêng tại Huyện Tuy Phong của Bình Thuận, chúng tôi có thể thấy hai kịch bản trái ngược nhau. Phía nam là các trang trại điện gió có tua-bin, được người dân địa phương chào đón nồng nhiệt và sản xuất năng lượng xanh, còn phía bắc là Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, trụ sở của 5 nhà máy nhiệt điện thuộc ô Vĩnh Tân cần được bảo vệ an ninh đặc biệt.

Một phần của khu liên hợp nhiệt điện Vĩnh Tân, tỉnh Bình Thuận, Nam Trung Bộ Việt Nam.

Hai câu chuyện này đủ để nói lên một nhu cầu cấp thiết: Chính phủ cần ban hành một kế hoạch phát triển điện năng mới tập trung vào năng lượng sạch và tạo ra một lộ trình từ bỏ hoặc hạn chế nhiệt điện hết mức có thể. Và câu hỏi quan trọng nhất cần đặt ra là: Làm thế nào để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia nhưng đồng thời tạo ra sự thịnh vượng, trong đó nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân?

Cho đến gần đây, Bộ Công nghiệp và Thương mại đã khuyến khích công chúng không có quan điểm cực đoan chống lại nhiệt điện vì tầm quan trọng của an ninh năng lượng quốc gia. Nhưng sự đồng cảm của công chúng không thể tồn tại mãi mãi, và mọi người cần nhìn thấy chiến lược năng lượng mới của quốc gia trước khi quá muộn.

Trong một báo cáo năm 2016 Đơn vị Tình báo Khí hậu và Năng lượng – một tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ các cuộc tranh luận có hiểu biết về các vấn đề năng lượng và biến đổi khí hậu có trụ sở tại Anh – đã gọi Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam là “bốn con hổ” có bốn con hổ lớn nhất thế giới. đường ống dự án điện than và chiếm 74% công suất điện than toàn cầu. Không có gì tự hào khi được đặt tên như vậy.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới về Việt Nam, từng nói rằng khi nền kinh tế phát triển mạnh, điều cốt yếu là Việt Nam “sẽ không muốn biến thành con rồng vàng bị bao bọc bởi tro than.”

Vì lợi ích của mình, Việt Nam nên gắn bó với nông nghiệp

Việt Nam luôn là một nước nông nghiệp; và sau tất cả những lời bàn tán về công nghiệp hóa, nông nghiệp vẫn là ân huệ cứu rỗi của chúng ta.

Có một câu chuyện hài hước xoay quanh ngành nông nghiệp của Việt Nam.

Trong hơn 30 năm, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn nhưng năm nào cũng vậy, Việt Nam lại mắc vào một vòng lặp trong đó chính phủ, ngân hàng và các công ty trong nước phải tiếp tay để dự trữ gạo và đảm bảo giá không giảm không kiểm soát.

Và có một thực tế là Việt Nam là một nước nông nghiệp. Ai cũng biết điều đó, nhưng cứ đến mùa vụ, chúng ta lại nghe những câu chuyện phải cứu nông dân khỏi cảnh ngộ này hay cảnh ngộ khác; các chiến dịch được phát động kêu gọi mọi người mua trái cây hoặc rau quả từ nông dân vì cung đã lấn át cầu; và giá thị trường giảm mạnh đến mức một số nông dân quyết định vứt bỏ tất cả sản phẩm của họ hoặc sử dụng chúng để làm thức ăn cho gia súc.

Để đối phó với những diễn biến nghịch lý này và đảm bảo sinh kế bền vững cho những người phụ thuộc vào nông nghiệp, chúng ta cần thay đổi cách nghĩ; thay đổi suy nghĩ của chúng ta, như mọi người thường nói ngày nay.

Mai, một Việt kiều hiện đang sinh sống ở Canada giống tôi, vừa gọi điện hỏi tôi mua gạo vừa về đến Vancouver.

Cô ấy nói với tôi đây là đợt đầu tiên của mùa thu hoạch, và theo kinh nghiệm mà cô ấy có được khi lớn lên trong một gia đình nông dân, lúa được thu hoạch trong thời kỳ này là tốt nhất.

Vậy mà cuối cùng, chúng tôi vẫn chưa hài lòng.

Gạo không bắt nguồn từ Việt Nam mà là Thái Lan. Và mặc dù đã nỗ lực rất nhiều để hỗ trợ nông dân, chúng tôi không thể tìm thấy bất kỳ loại gạo Việt Nam nào trên thị trường Canada.

Mặt khác, gạo Thái Lan đã tiếp tục tạo dựng được danh tiếng của mình tại Canada, nơi ngày càng có nhiều người châu Á lựa chọn để định cư. Giá gạo Thái Lan tại Canada thấp nhất trong tuần này là 2.000 USD / tấn, trong khi giá gạo của Việt Nam tiếp tục giảm và hiện ở mức dưới 400 USD / tấn. Trong tuần qua, đọc tin tức từ Việt Nam, tôi liên tục thấy cụm từ “giá gạo tiết kiệm”.

Chúng tôi, những người Việt Nam ở nước ngoài, rất thích có cơm Việt trong bữa ăn hàng ngày. Trong khi đó ở quê hương chúng tôi, hàng ngàn nông dân đang thấp thỏm trông chờ thương lái đến tận ruộng để họ bán thóc, thậm chí thấp hơn giá thị trường.

Một ngày tháng 10 năm ngoái, tôi nhìn thấy hình ảnh những người nông dân ở Bình Thuận, một tỉnh dọc theo duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, ném quả thanh long của họ đi khi giá giảm xuống chỉ còn 1.000 đồng (4,3 cent) mỗi kg. Ngay hôm đó, tôi phát hiện ra một số quả thanh long nằm chỏng chơ ở siêu thị hàng Việt Nam ở Vancouver, giá 100.000 đồng / kg.

Sau một thời gian tìm hiểu vấn đề này, tôi biết được rằng thanh long là loại trái cây Việt Nam duy nhất có ở Vancouver.

Các nhà xuất khẩu phải vượt qua rất nhiều khó khăn để có được các sản phẩm nông nghiệp như gạo hoặc thanh long đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu của Canada, đó là lý do tại sao những sản phẩm này được định giá cao tại thị trường Canada.

Và nếu những sản phẩm đó đến từ một hệ thống nông nghiệp sạch, hữu cơ được chứng nhận thì giá sẽ cao hơn nhiều.

Ví dụ, một loại gạo Jasmine hữu cơ của Thái Lan có giá tới 10.000 USD / tấn, gấp 5 lần gạo thường. Chỉ riêng tại thị trường Canada, nhu cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trị giá khoảng 4,2 tỷ USD. Trong khi đó, thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ở Mỹ trị giá 49,4 tỷ USD.

Công ty nghiên cứu thị trường Ấn Độ Zion đã dự đoán rằng vào năm 2024, thị trường toàn cầu cho các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ sẽ trị giá 323 tỷ USD, với mức tăng trưởng hàng năm là 15%.

Cuối năm ngoái, với sự chú ý ít ỏi của công chúng, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đã có một bước tiến lớn khi chính phủ ban hành nghị định về các điều kiện ưu đãi và hỗ trợ cho các công ty nhỏ, hợp tác xã và các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Nghị định cho biết chính phủ sẽ tài trợ tất cả các chi phí chứng nhận sản phẩm hữu cơ và chi phí xác minh các khu vực đủ điều kiện để sản xuất hữu cơ.

Cũng không nhiều người biết rằng Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới có tôm sú hữu cơ cách đây 20 năm, được nhân giống tại một dự án ở tỉnh Cà Mau, miền Nam nước này phối hợp với Thụy Sĩ.

Như người ta nói, muộn còn hơn không.

Hơn 30 năm kể từ khi Đổi mới, chính sách đổi mới kinh tế được áp dụng vào năm 1986, Việt Nam đã không ngừng theo đuổi giấc mơ trở thành một nước công nghiệp, nhưng điều đó vẫn còn xa vời. Việt Nam đã dựa vào nguồn lao động giá rẻ, giúp giảm chi phí sản xuất sử dụng nguồn nhân lực đó, để thu hút đầu tư nước ngoài, thay vì công nghiệp hóa quy trình sản xuất.

Nông dân thu hoạch lúa ở miền Bắc Việt Nam.

Phát triển ngành nông nghiệp của chúng ta thay vì trở thành hậu trường cho quy trình công nghiệp của các nước công nghiệp khác, về cơ bản, hội thảo của họ sẽ giúp Việt Nam giải quyết ba vấn đề lớn: an ninh lương thực, an ninh năng lượng và an ninh môi trường. Trong vòng 10 năm kể từ khi Việt Nam ban hành nghị quyết về nông nghiệp, với các chính sách ưu đãi cho nông dân cũng như cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, bao gồm việc cung cấp thêm cho nông dân các khóa đào tạo nghề để nâng cao tay nghề, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. sản phẩm đã tăng bốn lần lên 40,5 tỷ đô la vào năm ngoái.

Đối với một quốc gia gần 100 triệu dân, an ninh lương thực phải là mối quan tâm hàng đầu. Ưu tiên phát triển nông nghiệp thay vì công nghiệp sẽ hạn chế và giảm nhu cầu cung cấp năng lượng, do đó cải thiện an ninh năng lượng và giảm thiểu rủi ro đối với môi trường, đặc biệt là từ các dự án nhiệt điện than.

Ở cấp độ cao hơn, nông nghiệp hữu cơ thân thiện với môi trường và có thể tạo ra mối quan hệ công bằng cho tất cả các thành phần của hệ sinh thái. Nông nghiệp sạch và hữu cơ có thể góp phần ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, điều mà nền nông nghiệp dựa trên hóa chất đã tạo ra trong nhiều thập kỷ qua.

Với 65% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam có thể coi phát triển nông nghiệp như một cách để đối phó với xu hướng gia tăng người dân rời bỏ nhà cửa ở nông thôn để ở lại và tìm việc làm tại các thành phố lớn.

Một lần, tôi mong muốn rằng chính phủ và mỗi người dân Việt Nam có thể phát triển tình yêu với ruộng nước, quay trở lại với nông nghiệp và tiếp tục con đường của tổ tiên chúng ta với một cách nghĩ mới.

Chỉ cần Chính phủ quyết tâm phát triển nông nghiệp sạch và hữu cơ, chúng ta có thể lạc quan hơn về một tương lai tươi sáng cho nông sản và nông dân Việt Nam, rằng Việt Nam có thể là nơi hòa hợp của kinh tế, xã hội và môi trường.

Đây là con đường đúng đắn cho Việt Nam. Việc xây dựng dựa trên sức mạnh truyền thống của chúng ta, đảm bảo an ninh thực sự (an ninh lương thực) và bảo tồn đất đai cũng như các tài nguyên thiên nhiên khác của chúng ta cho các thế hệ mai sau là điều có ý nghĩa thay vì gây ô nhiễm và làm hỏng nó mãi mãi dưới danh nghĩa hiện đại hóa.

Vậy là bài giảng hôm nay Cách gõ tiếng Trung sogou pinyin trên máy tính bài 3 đến đây là hết rồi,cảm ơn các bạn đã theo dõi,chúc các bạn có một buổi học online vui vẻ nhé.

Bài giảng liên quan

Để lại Bình luận của bạn