Home Học tiếng Trung online Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6

Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6

by Nguyễn Phương Thảo
78 views
Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6

Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy của Thầy Vũ

Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6 là nội dung giáo trình giảng dạy các khóa học luyện thi HSK online từ HSK cấp 1 đến HSK cấp 9. Hôm nay nội dung giáo án của Thầy Vũ sẽ tập trung giúp các bạn nâng cao kỹ năng đọc hiểu tiếng Trung HSK cấp 8 và HSK cấp 9 thông qua bài tập luyện dịch tiếng Trung ứng dụng thực tế mỗi ngày của Thầy Vũ. Các bạn đừng quên theo dõi kênh Học tiếng Trung online mỗi ngày nhé.

Tiếp theo đây chúng ta cùng đến với bài giảng hướng dẫn cài đặt và cách sử dụng Bộ gõ tiếng Trung SoGou Pinyin về trên máy tính. Bài giảng do Thạc sĩ Nguyễn Minh Vũ soạn thảo và đăng tải trên các kênh về học tiếng Trung online hằng ngày.

Tải bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin

Những bạn nào đang học tiếng Trung giao tiếp hay bán hàng mà còn có hứng thú với việc tiếp cận với tiếng Trung văn phòng thì khóa học tiếng Trung thương mại của Thầy Vũ rất hợp cho các bạn rồi đây,hãy nhanh tay truy cập vào link sau để tham khảo nhé.

Tham khảo khoá học tiếng Trung thương mại

Tiếp theo các bạn hãy tham khảo khóa học Nhập hàng Trung Quốc TAOBAO TMALL dành cho những bạn có nhu cầu tìm hiểu cũng như buôn bán hàng Trung Quốc online,Thầy Vũ đã dành riêng cho các bạn một khóa học rất đầy đủ miễn  hấp dẫn luôn nhé

Khóa học nhập hàng Trung Quốc tận gốc taobao tmall 1688

Các bạn học viên ở xa Trung tâm tiếng Trung ChineMaster có thể tham gia các lớp học tiếng Trung trực tuyến qua Skype. Các bạn xem hướng dẫn đăng ký khóa học tiếng Trung online tại link bên dưới.

Lớp học tiếng Trung online qua Skype Thầy Vũ

Hiện nay Trung tâm tiếng Trung ChineMaster  đã có Cơ sở 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh Quận 10 rồi. Các bạn hãy vào xem thông tin chi tiết lịch khai giảng mới nhất ở cơ sở tại Hà Nội và TP HCM tại link sau nhé

Đăng kí lớp học tiếng Trung ChineMaster Hà Nội

Đăng kí lớp học tiếng Trung ChineMaster TP HCM Quận 10

Tài liệu về Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6

Nào bây giờ chúng ta cùng theo dõi nội dung giáo án bài giảng ngày hôm nay 11 tháng 4 năm 2021 ở bên dưới nhé.

缩小差距:为什么这么多的教育改革失败了?

当越南各地的父母和学生试图通过正在进行的教育改革时,VnExpress International希望介绍英国文化协会的Arran Hamilton博士提出的解决方案,他建议不要简单地采用“成功国家”的模式。
当事情变得艰难并且感觉到您踏上了永无止境的事情时,在英国,我们常常说“这就像在画Forth铁路桥”。这座桥位于爱丁堡以西约14英里处,横跨福斯峡湾(Firth of Forth)–该河口始于斯特林,一直流向北海。它于1890年完工,是英国第一座用钢建造的桥梁,而125年后仍是世界上第二长的悬臂桥。

但是,正如大多数学童所知,钢材容易生锈-尤其是在盐水环境中。因此,在桥梁的整个使用寿命中,都有一支永久性的团队,整个职业生涯都在上层建筑上涂上红色油漆,以防锈。绘画和重新粉刷Forth桥似乎是一项永无止境的任务。

到1990年代后期,重新喷涂福斯桥的年费用已达到每年100万英镑,并决定需要采取更激进的行动。从2002年开始,工作开始烧掉前一个和一个四分之一世纪的油漆,并使用一种新的“超级油漆”,这种油漆的使用寿命至少为20年。该项目花费了将近十年的时间来完成,并涉及将桥梁固定在4,000英尺的脚手架中,并对23万平方米的钢材和结构中的所有650万个铆钉进行涂装。假设一切都按计划进行,那么画家要到2032年才回来。因此,任何说永无止境的任务的人都“像画福斯铁路桥”,现在已经落后于时代了。

第四桥的绘画与教育改革之间有许多相似之处。全世界教育部的高级官员常常感叹教育改革似乎“永无止境”,并且“他们必须以更快的速度兜售(或涂装)以保持稳定”。面临的挑战是,我们尚未偶然发现教育上等同于“超级油漆”的东西,它可以使改革者有喘息的机会。

教育改革者经常将目光投向表现更好的国家。他们仔细研究了成功系统及其自身的政策和实践之间的所有关键差异。通过类似于艺术而不是科学的过程,他们找出了他们认为另一个系统如此成功的原因。这往往最终导致采用新政策的新的国家教育战略的出台,这些政策包括:只招募最优秀的毕业生;增加初始教师培训的持续时间;聘请助教;给小学生更多的功课;减少班级人数;并增加了上课时间。

快进了五年,改革者常常感叹他们感觉自己在用力涂漆,涂上更好的颜料,但锈蚀却以同样的速度累积。通常情况是,尽管涂料有所不同,但实际上并没有任何改善。在选择其他系统更成功的原因时,重整人员通常会选择所有不相关的功能,然后将这些功能应用于家中:结果是外观不同,但没有更大的防锈性能。

那么,我们如何找到相关特征来构建教育性的“超级绘画”呢?一种策略可能是使用来自随机对照试验的数据来找出正确的教育效果之路。审判是一种科学实验,其中将被研究人员随机分配到接受“药物”的实验组和不接受治疗的对照组。在试验前,试验中和试验后对两组进行评估,以评估治疗是否真正有效。

随机对照试验方法最初是由英国科学家在1940年代后期设计的,目的是测试当时神奇的新药链霉素在治疗结核病中的有效性。从那时起,它一直成为全球药品追踪的“金标准”。在教育领域,作为确定最有可能提高学生成绩的政策和教学干预措施的一种手段,审判也越来越流行。自1980年代初以来,已经进行了500,000多次大规模试验,涉及超过5,000万学生。

Phiên âm tiếng Trung cho bài giảng hôm nay lớp học tiếng Trung giao tiếp và luyện thi HSK cấp tốc tại Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6

Suōxiǎo chāi jù: Wèishéme zhème duō de jiàoyù gǎigé shībàile?

Dāng yuènán gèdì de fùmǔ hé xuéshēng shìtú tōngguò zhèngzài jìnxíng de jiàoyù gǎigé shí,VnExpress International xīwàng jièshào yīngguó wénhuà xiéhuì de Arran Hamilton bóshì tíchū de jiějué fāng’àn, tā jiànyì bùyào jiǎndān dì cǎiyòng “chénggōng guójiā” de móshì.
Dāng shìqíng biàn dé jiānnán bìngqiě gǎnjué dào nín tà shàngle yǒng wú zhǐjìng de shìqíng shí, zài yīngguó, wǒmen chángcháng shuō “zhè jiù xiàng zài huà Forth tiělù qiáo”. Zhè zuò qiáo wèiyú àidīngbǎo yǐxī yuē 14 yīnglǐ chù, héng kuà fú sī xiá wān (Firth of Forth)–gāi hékǒu shǐ yú sī tè lín, yīzhí liúxiàng běihǎi. Tā yú 1890 nián wángōng, shì yīngguó dì yī zuò yòng gāng jiànzào de qiáoliáng, ér 125 nián hòu réng shì shìjiè shàng dì èr cháng de xuánbì qiáo.

Dànshì, zhèngrú dà duōshù xuétóng suǒ zhī, gāngcái róngyì shēng xiù-yóuqí shì zài yánshuǐ huánjìng zhōng. Yīncǐ, zài qiáoliáng de zhěnggè shǐyòng shòumìng zhòng, dōu yǒuyī zhī yǒngjiǔ xìng de tuánduì, zhěnggè zhíyè shēngyá dōu zài shàngcéng jiànzhú shàng tú shàng hóngsè yóuqī, yǐ fáng xiù. Huìhuà hé chóngxīn fěnshuā Forth qiáo sìhū shì yī xiàng yǒng wú zhǐjìng de rènwù.

Dào 1990 niándài hòuqí, chóngxīn pēntú fú sī qiáo de nián fèiyòng yǐ dádào měinián 100 wàn yīngbàng, bìng juédìng xūyào cǎiqǔ gèng jījìn de xíngdòng. Cóng 2002 nián kāishǐ, gōngzuò kāishǐ shāo diào qián yīgè hé yīgè sì fēn zhī yī shìjì de yóuqī, bìng shǐyòng yī zhǒng xīn de “chāojí yóuqī”, zhè zhǒng yóuqī de shǐyòng shòumìng zhìshǎo wèi 20 nián. Gāi xiàngmù huāfèile jiāngjìn shí nián de shíjiān lái wánchéng, bìng shèjí jiāng qiáoliáng gùdìng zài 4,000 yīngchǐ de jiǎoshǒujià zhōng, bìng duì 23 wàn píngfāng mǐ de gāngcái hé jiégòu zhōng de suǒyǒu 650 wàn gè mǎodīng jìnxíng tú zhuāng. Jiǎshè yīqiè dōu àn jìhuà jìnxíng, nàme huàjiā yào dào 2032 nián cái huílái. Yīncǐ, rènhé shuō yǒng wú zhǐjìng de rènwù de rén dōu “xiàng huà fú sī tiělù qiáo”, xiànzài yǐjīng luòhòu yú shídàile.

Dì sì qiáo de huìhuà yǔ jiàoyù gǎigé zhī jiān yǒu xǔduō xiāngsì zhī chù. Quán shìjiè jiàoyù bù de gāojí guānyuán chángcháng gǎntàn jiàoyù gǎigé sìhū “yǒng wú zhǐjìng”, bìngqiě “tāmen bìxū yǐ gèng kuài de sùdù dōushòu (huò tú zhuāng) yǐ bǎochí wěndìng”. Miànlín de tiǎozhàn shì, wǒmen shàngwèi ǒurán fāxiàn jiàoyù shàng děngtóng yú “chāojí yóuqī” de dōngxī, tā kěyǐ shǐ gǎigé zhě yǒu chuǎnxī de jīhuì.

Jiàoyù gǎigé zhě jīngcháng jiāng mùguāng tóuxiàng biǎoxiàn gèng hǎo de guójiā. Tāmen zǐxì yánjiūle chénggōng xìtǒng jí qí zìshēn de zhèngcè hé shíjiàn zhī jiān de suǒyǒu guānjiàn chāyì. Tōngguò lèisì yú yìshù ér bùshì kēxué de guòchéng, tāmen zhǎo chūle tāmen rènwéi lìng yīgè xìtǒng rúcǐ chénggōng de yuányīn. Zhè wǎngwǎng zuìzhōng dǎozhì cǎiyòng xīn zhèngcè de xīn de guójiā jiàoyù zhànlüè de chūtái, zhèxiē zhèngcè bāokuò: Zhǐ zhāomù zuì yōuxiù de bìyè shēng; zēngjiā chūshǐ jiàoshī péixùn de chíxù shíjiān; pìnqǐng zhùjiào; gěi xiǎoxuéshēng gèng duō de gōngkè; jiǎnshǎo bānjí rénshù; bìng zēngjiāle shàngkè shíjiān.

Kuài jìnle wǔ nián, gǎigé zhě chángcháng gǎntàn tāmen gǎnjué zìjǐ zài yònglì tú qī, tú shàng gèng hǎo de yánliào, dàn xiùshí què yǐ tóngyàng de sùdù lěijī. Tōngcháng qíngkuàng shì, jǐnguǎn túliào yǒu suǒ bùtóng, dàn shíjì shang bìng méiyǒu rènhé gǎishàn. Zài xuǎnzé qítā xìtǒng gèng chénggōng de yuányīn shí, chóng zhěng rényuán tōngcháng huì xuǎnzé suǒyǒu bù xiāngguān de gōngnéng, ránhòu jiāng zhèxiē gōngnéng yìngyòng yú jiāzhōng: Jiéguǒ shì wàiguān bùtóng, dàn méiyǒu gèng dà de fáng xiù xìngnéng.

Nàme, wǒmen rúhé zhǎodào xiāngguān tèzhēng lái gòujiàn jiàoyù xìng de “chāojí huìhuà” ne? Yī zhǒng cèlüè kěnéng shì shǐyòng láizì suíjī duìzhào shìyàn de shùjù lái zhǎo chū zhèngquè de jiàoyù xiàoguǒ zhī lù. Shěnpàn shì yī zhǒng kēxué shíyàn, qízhōng jiàng bèi yánjiū rényuán suíjī fēnpèi dào jiēshòu “yàowù” de shíyàn zǔ hé bù jiēshòu zhìliáo de duìzhào zǔ. Zài shìyàn qián, shìyàn zhōng hé shìyàn hòu duì liǎng zǔ jìnxíng pínggū, yǐ pínggū zhìliáo shìfǒu zhēnzhèng yǒuxiào.

Suíjī duìzhào shìyàn fāngfǎ zuìchū shì yóu yīngguó kēxuéjiā zài 1940 niándài hòuqí shèjì de, mùdì shì cèshì dāngshí shénqí de xīnyào liàn méi sù zài zhìliáo jiéhébìng zhōng de yǒuxiào xìng. Cóng nà shí qǐ, tā yīzhí chéngwéi quánqiú yàopǐn zhuīzōng de “jīn biāozhǔn”. Zài jiàoyù lǐngyù, zuòwéi quèdìng zuì yǒu kěnéng tígāo xuéshēng chéngjī de zhèngcè hé jiàoxué gānyù cuòshī de yī zhǒng shǒuduàn, shěnpàn yě yuè lái yuè liúxíng. Zì 1980 niándài chū yǐlái, yǐjīng jìnxíngle 500,000 duō cì dà guīmó shìyàn, shèjí chāoguò 5,000 wàn xuéshēng.

Phiên dịch tiếng Trung cho bài giảng này khóa học tiếng Trung HSK online cấp tốc Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6

Thu hẹp khoảng cách: Tại sao nhiều cải cách giáo dục thất bại?

Trong bối cảnh phụ huynh và học sinh khắp Việt Nam đang nỗ lực định hướng thông qua cải cách giáo dục đang diễn ra, VnExpress International xin giới thiệu giải pháp do Tiến sĩ Arran Hamilton từ Hội đồng Anh đề xuất, người khuyên không nên chỉ áp dụng mô hình “các quốc gia thành công”.
Khi chặng đường trở nên khó khăn và bạn có cảm giác như đã bắt tay vào một điều gì đó không bao giờ kết thúc, ở Anh, chúng tôi thường nói “giống như sơn Cầu đường sắt Forth”. Cây cầu trong câu hỏi nằm khoảng 14 dặm về phía tây Edinburgh và nhịp Firth của Forth – một cửa mà bắt đầu ở Sterling và chảy ra Biển Bắc. Được hoàn thành vào năm 1890, nó là cây cầu đầu tiên ở Anh được xây dựng bằng thép và 125 năm sau đó vẫn là cây cầu đúc hẫng dài thứ hai trên thế giới.

Nhưng như hầu hết trẻ em đi học đều biết, thép rất dễ bị gỉ – đặc biệt là trong môi trường nước mặn. Vì vậy, trong phần lớn tuổi thọ của cây cầu, đã có một đội ngũ cố định dành toàn bộ sự nghiệp của mình để quét sơn đỏ lên cấu trúc thượng tầng, để tránh rỉ sét. Sơn và sơn lại Cầu Forth dường như là một nhiệm vụ không bao giờ kết thúc.

Vào cuối những năm 1990, chi phí hàng năm cho việc sơn lại Cầu Forth đã lên tới 1 triệu GBP mỗi năm và người ta quyết định rằng cần phải có những hành động triệt để hơn. Năm 2002, công việc bắt đầu thực sự đốt cháy lớp sơn 1/4 thế kỷ trước đó và áp dụng một loại ‘siêu sơn’ mới, được thiết kế để tồn tại ít nhất 20 năm. Dự án đó đã mất gần một thập kỷ để hoàn thành và bao gồm việc bao bọc cây cầu trong 4.000ft giàn giáo và sơn hơn 230.000m² thép và tất cả 6,5 triệu đinh tán trong cấu trúc. Giả sử tất cả đã đi đúng kế hoạch, các họa sĩ sẽ không trở lại cho đến năm 2032; vì vậy bất cứ ai nói rằng một nhiệm vụ không bao giờ kết thúc là “như sơn Cầu Đường sắt Forth” thì bây giờ đã đi sau một chút so với thời đại.

Có nhiều điểm tương đồng giữa bức tranh Cầu Forth và cải cách giáo dục. Các quan chức cấp cao trong các bộ giáo dục trên thế giới thường than thở rằng cải cách giáo dục dường như “không bao giờ kết thúc” và rằng “họ phải bán rong [hoặc vẽ] nhanh hơn chỉ để đứng yên”. Thách thức là chúng ta vẫn chưa vấp phải sự tương đương về giáo dục của ‘siêu sơn’ cho phép những người cải cách có cơ hội nghỉ ngơi.

Các nhà cải cách giáo dục thường tìm đến những quốc gia đang làm tốt hơn. Họ thực hiện các nghiên cứu kỹ lưỡng về tất cả những điểm khác biệt chính giữa các chính sách và thực tiễn của hệ thống thành công và của chính họ. Thông qua một quá trình giống như một nghệ thuật hơn là một khoa học, họ chọn ra những gì họ nghĩ rằng lý do là hệ thống kia rất thành công. Điều này thường lên đến đỉnh điểm khi đưa ra chiến lược giáo dục quốc gia mới với các chính sách mới như: chỉ nhận những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc nhất vào giảng dạy; tăng thời lượng đào tạo giáo viên ban đầu; thuê trợ giảng; cho học sinh tiểu học làm thêm bài tập về nhà; giảm sĩ số lớp học; và tăng thời lượng của ngày học.

5 năm trôi qua và các nhà cải cách thường than thở rằng họ cảm thấy như họ đang sơn cứng hơn và sơn tốt hơn nhưng rỉ sét vẫn đang tích tụ với tốc độ tương tự. Thông thường, thực tế là mặc dù màu sơn khác nhưng thực tế không tốt hơn chút nào. Khi chọn ra những lý do tại sao các hệ thống khác thành công hơn, các nhà cải cách thường chọn tất cả các tính năng không liên quan và sau đó thực hiện các tính năng này trở lại nhà: kết quả là lớp sơn trông khác nhưng không có khả năng chống rỉ cao hơn.

Vì vậy, làm thế nào để chúng ta tìm thấy các tính năng liên quan để xây dựng một “siêu sơn” giáo dục? Một chiến lược có thể là sử dụng dữ liệu từ Thử nghiệm có kiểm soát ngẫu nhiên để tìm ra con đường đúng đắn cho hiệu quả giáo dục. Thử nghiệm là một loại thử nghiệm khoa học, trong đó những người được nghiên cứu được phân bổ ngẫu nhiên vào một nhóm thử nghiệm nhận “thuốc” và một nhóm đối chứng – không được điều trị. Cả hai nhóm đều được đánh giá trước, trong và sau thử nghiệm để đo lường liệu phương pháp điều trị có thực sự mang lại hiệu quả hay không.

Phương pháp thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát ban đầu được các nhà khoa học Anh nghĩ ra vào cuối những năm 1940 để kiểm tra hiệu quả của loại thuốc kỳ diệu mới Streptomycin trong điều trị bệnh Lao. Kể từ đó, nó đã trở thành “tiêu chuẩn vàng” cho các ngành dược phẩm trên toàn cầu. Thử nghiệm cũng đã trở nên phổ biến trong ngành giáo dục, như một phương tiện để xác định chính sách và các can thiệp sư phạm có nhiều khả năng nhất để nâng cao thành tích của học sinh. Kể từ đầu những năm 1980, đã có hơn 500.000 cuộc thử nghiệm quy mô lớn với hơn 50 triệu sinh viên.

Trên đây là nội dung chi tiết của bài giảng Trung tâm tiếng Trung Quận 10 tài liệu giảng dạy bài 6 ,các bạn đừng quên lưu bài giảng về học dần nhé.

Bài giảng liên quan

Để lại Bình luận của bạn